I. Ký ức
Nhận lời viết báo xuân, thoạt tiên, tôi nghĩ đến sớ Táo quân; nhưng sau đó biết mình không cách nào viết được như theo truyền thống tập tục trong trí nhớ ngày xưa. Đó là thực hiện một bản tường trình thể thơ vần, câu 4 hay 5 chữ. Mang giọng trào phúng hay ít ra một lá sớ văn xuôi nhẹ nhàng mỉa mai chỉ trích chuyện xấu, khen ngợi điều lành (của chủ nhà) rồi cầu xin Ngọc Hoàng Thượng Đế ban cho họ một năm mới tốt đẹp hơn.
Trong bộ óc non nớt trẻ thơ thập niên 1960-1970: Sớ Táo sống chung với mua sắm chợ Tết, chợ hoa, mặc áo mới, theo ba ra Sài Gòn thăm bên nội, theo má về quê thăm bên ngoại. Quà Tết là những ổ bánh mì nóng dòn thơm phức và báo xuân khổ lớn với các phụ bản lịch năm mới có ảnh ca sĩ, tài tử điện ảnh và cải lương với màu sắc tươi sáng[1]. Sau đó là những ngày nghỉ học, rúm ró trong nhà nghe tiếng đạn bom hoả tiễn mìn, plastic dồn dập cho đến ngày rời Sài Gòn đi Pháp cuối 1969 và chiến tranh chấm dứt hẳn cho người ở lại khi 30 tháng tư 1975 đến. Bắt đầu những xáo trộn mới và áp lực mới, một bức màn…(tre/sắt?) ngăn chặn mọi tiếng động. Thế là có buồn vui, trực tiếp trong cuộc đời thường và gián tiếp qua thư từ, tin tức truyền hình. Không thể có sớ Táo trong thời gian xáo trộn ấy, vì thiếu một Táo quân trầm tĩnh để báo cáo sự thật về trời.
Qua vèo nửa thế kỷ với ít nhiều im lặng, hôm nay các nhộn nhịp, vui vẻ thời xưa dường như bùng trở lại, nơi kia chốn nọ; thí dụ xuân này tuy một số con không về, một số khác sửa soạn rời thành phố, rời quê hương mới về vui Tết tại Việt Nam. Nối tiếp truyền thống nghi thức thời bình và …kinh tế thị trường: cúng tổ tiên ông bà, chúc tụng, sắm sửa quà Tết, với nhang đèn, vàng mã, xe pháo, tiền giấy thiệt và giả vv. Đặc biệt khác lạ các hình ảnh xe tình thương chở người miễn phí về quê, và quanh các bệnh viện, những dây người (thăm/chờ thân nhân), xếp hàng đợi bữa ăn phát chẩn[2].
Ký ức những đứa trẻ thơ bây giờ và nơi đây hay chốn kia, chứa những hình ảnh nào và chúng tìm lịch sử ở đâu?
Những ai có cơ hội thường về quê hương khi trở lại kể chuyện mắt thấy tai nghe đều được mạng xã hội ủng hộ đồng tình ngợi khen hay chê bai ném đá. Bênh vực tới trời cũng như chửi rủa đến tận cùng địa ngục. Như một trận chiến mini. Có buồn vui lẫn lộn. Thì ra tiếng bom đạn súng đã ngưng nhưng dường như chiến tranh chưa thật sự chấm dứt và mọi chuyện đều là cơ hội khai chiến bằng ngôn từ đủ loại. Chiến trường tâm lý mới của diễn ngôn và ký ức.
Lãnh tụ thời bấy giờ, ông Võ Văn Kiệt, tuyên bố trong 1 bài phỏng vấn : “..khi nói về sự kiện 30 tháng 4/1975 có hàng triệu người vui và hàng triệu người buồn..” [3]. Câu tuyên bố hàm ý hoà giải cảm thông này được lặp đi lặp lại vào mỗi mùa lễ hội nhưng trong thực tế không thật sự có cảm thông và tôn trọng hai thứ cảm xúc này để chúng có thể tồn tại song hành với tất cả chi tiết đa dạng của một xã hội bình thường.
II. Chiến thắng, thống nhất và nửa thế kỷ hòa bình Việt Nam
Vào tháng tư 1975, miền Bắc có khoảng 19 đến 23 triệu dân và miền Nam 17 đến 20 triệu; ngày nay đôi miền tròm trèm 101 triệu. Hàng năm trong nước chiến thắng được nhắc nhở tưng bừng với cờ xí, biểu ngữ, hồi ký chiến thắng của công thần và các con cháu, thành tích anh hùng và hy sinh[4]. Hải ngoại nói đến ngày gãy súng, quốc hận, mất nước. Rõ ràng còn vui, còn buồn. Và những triệu nào vui, những triệu nào buồn? Ký ức và di sản của ngày chiến thắng trong nước và quốc hận vong thân hải ngoại.
Tính ra cho kỹ thì số triệu triệu này có lẽ phải nhân lên hàng chục, theo tỷ lệ sinh sản và thời điểm được nhắc nhở đến từ những hào quang và thương tổn cũ. Một bên linh thiêng tột bực (đến mức xem như ngày tổ quốc khai sinh thật sự !) bên kia hận tổn thương mất mát tận cùng.
Vui ra sao, buồn thế nào? Chính trị gia ngôn từ chọn lọc chung chung nhưng trong thực tế vui hay buồn chỉ là những trạng thái tâm lý rất thông thường, mơ hồ, rất đơn điệu, thậm chí vô nghĩa tuỳ người đối diện. Đơn giản vui vì có hạnh phúc, buồn vì tai hoạ? Từ lâu lắm trong văn chương âm nhạc Việt cũng ít nhiều nhắc nhở vui buồn. Vui đại thắng trên xác người[5]. Và nhờ AI Suno …tôi nghe lại hiện nay những bài hát đã nghe hơn 50 năm về trước. Vui buồn lẫn lộn, vui hài cạn cợt và buồn lặng câm nín trong nỗi sầu không tên, rất ư là không tên. Buồn như nỗi buồn có con, em, cha, mẹ đã chết trong bom bay đạn lạc hay trong lòng biển cả hay nơi hoang đảo. Vui vì con cháu, hậu duệ học hành thành công xuất sắc ở Âu Mỹ, buồn vì tin đồng bào bị bắt, bị giam và cả bị chết ngạt trong một chuyến buôn lậu, ăn cắp và vượt biên.
Mối liên quan xưa – nay của các vui buồn ấy, tôi đọc thấy từ những bài báo phân tích và diễn giải về ngày 30 tháng tư ấy, trong và ngoài nước, theo các phong trào, sở thích, thị hiếu ngắn ngủi hoặc dài lâu. Chuyện thường tình và rất con người.
Rõ ràng 60 năm trước má tôi thích mặc áo dài cổ cao thắt eo con kiến, xú chiêng nhọn hoắt, lọn (tóc bới của bà ngoại đã thành) tóc uốn quăn… đến bọn tôi, những năm 1960 và 1970, tóc ngắn Jean Seberg, Sylvie Vartan.. cắt uốn hay dài ngắn tự nhiên, áo dài mà vạt ngắn tủn, cổ thấp vuông tròn, tay áo raglan và eo rộng thong dong, áo dài đi học màu trắng, may phù hiệu tên trường, áo đi chơi thì đủ kiểu màu, vẽ thêu, quần ống voi thênh thang hay ống túm ôm sát cổ chân. Còn có mini váy ngắn trên đầu gối, robe ôm ngực /mông, đủ kiểu.
Chỉ khi hoà bình tới độc một kiểu áo ngắn, chạy chợ chạy gạo rất tiện lợi. Khi đất nước thống nhất ý thức hệ, thời trang và thẩm mỹ cũng đồng nhất. Nhưng hoà nhi mà bất đồng, nên đồng nhi/nhất ra …bất hoà : tái ông thất mã…Tôi rất thú vị khi dần dà vào dịp lễ hội chính thức, các bà trung lão niên mệnh phụ hay phụ nữ đại diện …phụ nữ, trang trọng thướt tha trong áo dài kim tuyến sơn vẽ thêu lộng lẫy hoa lá cành từ cổ đến chân. Sống qua thời trang mà họ không được có trước đây.
Sự đồng nhất miễn cưỡng này không thể kéo dài cho nên hoa lá rụng dần theo giòng đời…thời trang, thanh thiếu nữ váy mini hay mini tối giản đến mức không (vì biến đổi khí hậu và mode thế giới) theo sát thời trang thế giới, theo các minh tinh tài tử, ca sĩ và “diva”, các cậu quý tử của những người cắt và bị cắt quần loe thuở trước cũng áo dài ôm sát, vai đứng, nửa Tàu, nửa Ấn, nửa Mã Lai, nửa Xiêm …nhiều thứ nữa nên khi pha trộn xong nhìn ra rất …Đông Nam Á!
Vòng luân hồi các sở thích cũng như ước ao bao giờ trở lại như xưa, như lý thuyết một vòng tròn đơn điệu con gà và cái trứng hay một vòng xoắn năng động không bao giờ ngừng với các tầng tiến bộ biểu hiện sự tăng trưởng về mặt tinh thần của con người cá thể hay cộng đồng ?
Trở lại như xưa có nghĩa vì không có cái hay hơn, tốt hơn hoặc chỉ là nỗi nhớ nhung thương tiếc những gì không còn nữa? Những bài hát, bản nhạc, những quyển sách bị đốt ngày xưa, bây giờ được tái bản, hâm mộ vì giá trị tinh thần rất con người, rất chân thật và nhân ái?
Hay chẳng qua bản tính tò mò tự nhiên thường được nuôi sống nhờ những cấm đoán?
Vì những dối trá hay chỉ là cái “quằn” của con giun bị xéo?
Hay giản dị hơn sau đơn điệu cưỡng bức thế hệ trẻ sống trong toàn cầu hoá, nghĩa là sự cần thiết của đa…nguyên, là hiệu ứng hồi sinh của ký ức đẹp đẽ bị đè nén?
Cái bị cấm kỵ không bao giờ chết, nó chờ thời. Thì ra hình thức xã hội thay đổi biến chuyển rất nhanh nhưng cảm xúc sâu xa bị cưỡng bức /đè nén sẽ đưa đến phân hoá ngầm và âm ỷ! Cũng như ảnh hưởng không thể cưỡng lại của sự Toàn cầu hoá trong một xã hội mở, cho dù sự mở ra này bất đắc dĩ vì lý do sinh tồn.
Từ nhiều năm nay, ở bên ngoài quê hương, thuộc thế hệ thứ hai (hay một rưỡi!) bạn bè tha hương đồng lứa chúng tôi có một cuộc đời rất bình thường, sinh hoạt như bao nhiêu gia đình trung lưu bản xứ khác, làm việc 42 năm, hè đi chơi, về quê hương, xong nợ xã hội thì về hưu, người này có cháu ngoại cháu nội đứa sắp đẻ con hay vào đại học, người kia về quê nhà như cơm bữa, tìm vợ cho mình, cho con. Gọi nhau ơi ới mỗi ngày chọn một niềm vui.!? Gửi nhau những lời khuyên răn về sức khỏe, thể thao …để được thêm vài năm đi chơi, gặp lại, tán dóc cho vui?!
Nhưng coi vậy mà nào phải như vậy! Thật sự khi Nga gây chiến ra ở Ukraine và những biến động tranh chấp kinh tế chính trị pro Trump contre Trump, chê và khen Putin… dồn dập trên thế giới từ sau cơn dịch Covid 19 cho đến các cuộc chiến Israel với Iran …đã khiến quanh tôi, người bạn thân sơ hay lạ, không riêng tôi, trao đổi những cảm giác xốn xang bứt rứt lạ lùng mà quen thuộc, những hồi ức, âu lo…không tên, nên tôi nghi ngờ về sự bình an tưởng đã có lâu nay…Ám ảnh và nợ nần lịch sử ngỡ đã quên đi nhưng chỉ vài tiếng nổ, một cao ốc trơ xương, những ngôi nhà đổ nát, đen khói…đủ vực dậy những ký ức xưa cũ, đánh thức những hồn ma kinh hoàng hiển hiện của trí nhớ tưởng chừng mù sương.
Từ đó càng rõ nét những thắc mắc dai dẳng. Có phải những xung động mới đánh thức chấn thương tâm lý cá nhân và tập thể còn tồn đọng cho dù thảm kịch đã qua từ rất lâu? Như vậy trên thế giới và Việt Nam (sau cuộc nội chiến hay cuộc chiến ý thức hệ, tùy theo quan điểm của từng người), chúng được xoa dịu thậm chí chữa lành ra sao?
Chịu nhiều hoang mang, khủng hoảng cũng như hân hoan vui sướng tột cùng chính là thế hệ người Việt sinh ra từ vài năm trước sau 1940 [6], khi bắt đầu có ý thức, sống và tham gia trực tiếp các cuộc chiến tranh, giành độc lập từ tay Pháp rồi Nhật và cuối cùng là cuộc nội chiến thảm khốc với các chấn thương chia lìa, mất mát, những nỗi u uất tưởng chừng như quá sức chịu đựng, 50 năm nay chính họ giữ vai trò không nhỏ trong việc cùng thế hệ kế tiếp, đóng góp xây dựng lại quê hương đất nước vừa là nền tảng vững chãi vừa góp phần tạo dựng các cộng đồng Việt lớn mạnh trên thế giới.
Thành công và thất bại có tương đương tỷ lệ như các nỗi vui buồn?
Như vậy, từ ngày thanh bình và thống nhất cho tới nay đã hơn nửa thế kỷ, thì tôi, sẽ nên viết gì nếu là một Táo quân xa quê hương từ lâu, tuy với một phần trái tim ở lại, tuy nhận báo cáo hàng năm của gia chủ qua các táo quân thay thế, rõ ràng, “từ thuở ấy” hàng triệu tim bừng nắng hạ cũng như hàng triệu người âm thầm máu lệ rỉ rả, chưa một lần tôi ân cần hỏi han sức khoẻ họ bây giờ ra sao. Cho nên bài viết này đành như một lá sớ gửi cái nhìn về mức độ cá nhân và tập thể, từ gia đình riêng lẻ đến lãnh đạo. Ôn cố tri tân như người xưa đã dạy. Không chỉ để biết, để cảm ơn, cảm ơn lòng can đảm đã đành, cảm ơn ý chí quật cường đã đành, nhưng còn để thấu cảm, thấm thía những mất mát oan trái, thống khổ, khó khăn nghiệt ngã họ đã chịu đựng.
III. Tính sổ cuối năm và thắc mắc tự đặt
50 năm hoà bình, các chấn thương có mặt, tồn đọng thế nào cho ba thế hệ người Việt trong và ngoài quê hương?
Tháng giêng 2026, ngành báo chí tại Việt Nam có triển lãm “ sắc Báo Xuân 2026 ” trình bày các báo xuân cổ xưa và cũ, phần khác về “truyền thống và tiếp nối”, trò chuyện giữa các nhà làm báo và giới trẻ genZ sinh viên trong ngành báo chí. Về cách thức và tổ chức cũng như vai trò, kinh nghiệm dĩ nhiên của ngành báo chí, qua các thời kỳ lịch sử Việt Nam.
Người Việt hải ngoại tổ chức những chuyến quay về Nam Dương, Thái Lan hay Mã lai thăm mộ địa, di tích các căng trại hải đảo tạm trú ngày xưa, ra mắt hồi ký hay tưởng niệm người ơn Mỹ, Pháp, Đức, Na Uy… đã cứu vớt/giúp dân tỵ nạn nhập cư.
Tại Mỹ có Châu Thuỵ là một thuyền nhân đến Mỹ vào 1980, thành lập Vietnamese Heritage Museum tại San Jose (California) –Viện bảo tàng Di sản Người Việt-, năm 2016, một tổ chức vô vị lợi “mục đích bảo tồn và giới thiệu di sản của người Việt Tỵ nạn” triển lãm, hội thảo gần nhất vào tháng 11/2025.
Và chúng tôi khi du lịch các nước Do Thái, Nhật Bản, Đức và Mỹ…thường đến xem những viện bảo tàng, đài tưởng niệm, ghi ơn… đều thấy họ nâng niu gìn giữ như báu vật các kỷ vật, chứng từ, hình ảnh của quá khứ, đa phần là đổ nát, đau thương nhưng giải thích rõ ràng các ngọn nguồn lịch sử. Không hề nói chuyện đúng sai.
Thì ra, dù ở đâu, dù thế nào ( vui/buồn/sướng khổ) chúng ta nói riêng hay người khác trên địa cầu, là con người nói chung, các tổn thương mất mát đổ vỡ đều có, đều giống nhau và chúng cần được biết đến, được nhìn nhận để tiếp tục sống còn. Không chỉ cho thế hệ tiếp theo mà còn cho người ngoại cuộc biết đến và đón nhận không phán xét.
Dân tộc nào cũng sống sót và tồn tại khi có đủ can đảm nhìn nhận vết thương của mình. Những di chứng và tồn đọng này rõ ràng cần thiết được giải bày nguồn cơn. Cho chúng ta, Ký ức nào và di sản nào? Kể cả Ký ức chiến tranh và hoà bình!.
Cho nên khi bất chợt đích thân quay về bếp cũ, ngẩn ngơ trước nhà bếp design hiện đại và hấp dẫn, chỉ còn nút bấm hay ánh chữ số chớp loé. Không còn mùi tro than, dầu hoả thay cho lò đất ba chân củi chụm mù mịt khói cay, bóng loáng khô ran sạch sẽ, nồi niêu chén dĩa xếp hàng kín đáo. Tủ lạnh, tủ đông đầy các dưỡng chất trần gian… Bằng lòng vì bếp và cả người nấu bếp còn kia (với dáng vẻ tròn trịa hài lòng và bên kia cửa sổ, cao ốc ngất ngưởng, đèn hoa sáng rực, cộ xe hơn nước, áo quần như…không! ) nhưng hỏi han thế nào, ghi đầy đủ trọn vẹn ra sao vào cái lá sớ gởi Ngọc Hoàng? Hỏi gia chủ cách nào về những ngày tháng mất tăm đã qua, ngõ hầu thân phận xó bếp này xin xỏ cho được môt hứa hẹn đền đáp nghiêm chỉnh vào buổi tống tiễn cuối năm? Nên hay không nhìn lại dấu bầm dập trên nếp rạn cũ, khơi lại những vết thương dường như chưa hoá sẹo …(rồi sao nữa?).
Khi loay hoay trăn trở tìm một bắt đầu, một khung giới hạn, tôi tình cờ nghe nhắc tên Boris Cyrulnik trên không gian mạng [7]. Thích đọc ông từ lâu vì cuộc đời gian truân mồ côi cha mẹ và vô cùng ấn tượng với cuộc vượt thoát khỏi tay mật vụ Đức Quốc xã gestapo khi mới 6 tuổi và với sự nghiệp nghiên cứu sau này của ông, tôi muốn biết rõ hơn phương pháp ông dùng để vượt qua các chướng ngại, thử thách quá lớn. Qua kinh nghiệm tự thân, ông cổ võ khái niệm “Résilience” khả năng phục hồi và tiếp tục phát triển sau chấn thương tinh thần vật chất do các biến cố kinh hoàng lớn nhỏ, xảy ra trong khoảnh khắc hay kéo dài đến với nạn nhân.
IV. Chấn thương tâm lý và tinh thần
Cho nên khi tìm hiểu và liên đới phương pháp Résilience BC và các công trình điều trị khác, cho những nạn nhân khác, nơi khác như một khởi đầu, trước khi thử nhìn vào trường hợp người Việt. Bài viết này liều lĩnh trình bày, phác thảo nhận xét, tìm cách trả lời các câu hỏi tự đặt của người không chuyên về tâm lý học, xã hội học.
Nguyên nhân gây chấn thương tâm lý
A- Từ khủng bố và bạo động…
Các tranh chấp cá nhân nhỏ bé trong việc làm, sự bất lực trước nợ nần, nghịch cảnh, gia đình không hạnh phúc, chán nản cuộc sống đơn điệu v.v… thường bắt đầu bằng những biểu hiện của căng thẳng hay chấn thương tinh thần nhẹ[8] như mệt mỏi, bi quan, tiêu cực, lo âu, giận dữ…ăn uống thất thường. Khi tình trạng căng thẳng kéo dài, mất ngủ, mộng mị, buông xuôi…thể chất dần tiêu hao đi đến tình trạng kiệt sức (burn out), ảnh hưởng xấu đến cảm nhận và suy nghĩ, như mặc cảm, nghi ngờ, thương ghét bất công trong hành xử với gia đình, ganh tỵ hiềm khích khi xây dựng các mối quan hệ trong xã hội và cuộc sống hàng ngày.
Tổn thương nặng hơn khi có tranh chấp hay tai nạn xảy ra cho một số đông, khi biến cố kéo dài hoặc tái diễn, sẽ gây trầm cảm, lo âu, tự hành hạ thân xác thậm chí đi đến ý muốn quyên sinh, điên loạn hay hành động gây tổn thương cho kẻ khác.
Thí dụ: bạo lực gia đình, bị hiếp dâm, nhìn thấy hay trực tiếp kẹt trong biến loạn khủng bố hay tai nạn máy bay, và thiên tai bất ngờ. Ngay cả khi tai nạn đã qua, các buổi tưởng niệm, hồi ức hay đáp án có thể đem kết quả khơi diễn xát muối mối thương tâm, vết xước cũ.
Thí dụ Khi quân khủng bố Hồi giáo quá khích, ngày 11 Septembre 2001 cướp các máy bay dân sự tấn công Toà tháp đôi Mỹ và các cơ sở quân sự chính trị. Kết quả chấn thương lớn cho dân Mỹ và toàn thế giới vì mọi sự diễn ra trực tiếp trên màn ảnh truyền thông. Cuộc truy lùng thủ phạm lâu dài và công lý trả lời sau nhiều năm ráo riết nhưng đau thương và chấn động sâu thẳm còn tồn tại.
Riêng tại Anh, Pháp .. khi tấn công đột ngột vào các phương tiện giao thông dân sự, phần tử Hồi giáo quá khích gây hoảng loạn sợ hãi trong xã hội Âu châu vốn sống yên lành từ hơn 70 năm nay.
Cho nên dù các hình ảnh kỷ niệm, hồi ức chính thức dễ khơi lại chấn thương và xúc động cũ cho số đông, các tổ chức dân sự hay quốc gia vẫn thực hiện khi có cơ hội, kể cả các biện pháp đối phó như những toán quân nhân mang súng tuần tra và các kiểm soát gay gắt tại phi trường, bến xe, cơ sở công cộng vv…
Thí dụ Mười năm trước tại Pháp; khủng bố quá khích Hồi giáo đột nhập và bắn giết ban biên tập toà soạn báo Charlie Hebdo[9], xử tử một linh mục công giáo hay một gia đình Do Thái giáo và bắn vào hàng trăm khán giả trong một buổi hoà nhạc và cả đám trẻ trước thềm những quán rượu nhỏ tại Paris khiến cả nước Pháp đã tràn ra đường kết án, cầu nguyện cho các nạn nhân và biểu lộ sự đoàn kết chống bạo lực mù quáng.
Đó là ảnh hưởng gián tiếp liên hoàn trên thế giới khi cánh bướm chấp chới hay tiếng ho ở nơi này gây bão tố và dịch bệnh ở chỗ kia.
Những thí dụ trên cho thấy chấn thương tâm lý không chỉ thuộc về cá nhân mà có thể trở thành chấn thương cho cả xã hội. Như vậy sau nhiều thập niên chia cắt và chiến tranh, xã hội và con người Việt Nam đã mang những dấu vết nào của loại chấn thương này?
ESPT État de Stress Post Traumatique (Pháp – hay Anh ngữ: Post-Traumatic Stress Disorder PTSD nhằm chỉ rõ những rối loạn tâm lý cho người sống sót sau những biến cố đặc biệt bất ngờ nghiêm trọng và đột ngột. Các biểu lộ qua nhiều trạng thái tâm lý từ trầm cảm dài lâu đến điên loạn, ý nghĩ quyên sinh, ám ảnh và ác mộng dai dẳng một thời gian khiến đời sống cá nhân và xã hội phải chịu ảnh hưởng tiêu cực.
Sự liên đới kinh khủng này khiến các phương pháp được vinh danh và áp dụng trong các nước.[10] Các phương pháp trị liệu ứng dụng thường được phổ biến rộng rãi, và không khác mấy với các phương pháp trị liệu sau thời chiến, tất cả được hệ thống hoá, phổ biến dưới hình thức cẩm nang, khi biến cố xảy ra, lập tức các giải pháp được thi hành : cơ quan y tế/phòng tổ chức đối phó/kháng cự (cellules de crises) , bệnh viện tâm thần…gặp gỡ chuyên gia tâm lý, bác sĩ phân tâm học v.v.
B- …Đến chiến tranh
Nguyên nhân gây ra thiệt hại trầm trọng và ảnh hưởng lớn nhất cho một quốc gia thường là chiến tranh- nội chiến, hay tranh chấp với các nước láng giềng- và dĩ nhiên thời gian cuộc chiến càng dài tổn thất nhân mạng càng lớn.
Thí dụ hai cuộc thế chiến (dài 4 và 6 năm với 15 đến 20 triệu và 70 đến 85 triệu người chết cho mỗi thế chiến) xảy ra trên bình diện gần như toàn thế giới, những gia đình của triệu triệu gia đình sống sót ngoài nỗi đau tang tóc họ còn phải đối diện với vô số thử thách vật chất và tinh thần xây dựng, tiếp tục tăng trưởng, đi tới, sống đời mình và kế thừa những đời sống bị gián đoạn tức tưởi.
Kết quả là cục diện thế giới đổi thay, biên giới các nước di dời theo ý muốn của kẻ thắng, các trục phân chia trật tự chính trị mới : nhiều nước nhỏ được độc lập, thoát khỏi vòng tay đế quốc. Có quốc gia mất tên, có nước hoá chư hầu.
Ba quốc gia chính thức bị chia cắt thành 6 theo hai thể chế tư bản và cộng sản. Phân chia Nam & Bắc như Việt Nam, Đại Hàn; Đông & Tây như Đức.
Đồng thời, những nghiên cứu về tâm lý, xã hội, phân tâm học, lâm sàng các di chấn cũng được phát triển quy mô.
Từ 1948, sau những đụng độ lẻ tẻ, riêng trận lớn đánh nhau vùng biên giới năm 1950, Triều Tiên và Nam Hàn đã lôi kéo Mỹ, Liên Xô và Trung quốc tham chiến. Chỉ sau ba năm, đến 1953, khoảng 4 triệu dân sự chết và gần trăm ngàn quân nhân tử trận mỗi bên tư bản và cộng sản.
Chấn thương tâm lý
Một thống kê sau thế chiến cho biết khoảng 20 phần trăm nạn nhân mang các chấn thương tâm lý và phân nửa trong số ấy có chấn thương tâm lý nghiêm trọng. Điều đáng kể là thắng hay bại, sau 10, 20 và 50 năm, Đức Nhật, Pháp, Mỹ…đất đai bị cắt, thuộc địa mất còn nhưng tất cả đều trở lại là những cường quốc.Họ đã thực hiện những phương cách nào?
Từ sau cuộc chiến tranh lạnh đến nay, những xung đột vũ trang và khủng bố[11] lớn nhỏ như đã nhắc ở trên, vẫn với tính cách bất ngờ và đột ngột, chính thống hay uỷ nhiệm, do quyền lợi chính trị hay kinh tế, không ngừng tiếp diễn ở khắp nơi. Dân Palestine dải Gaza, bị quân đội Do Thái tàn phá vì truy lùng Hamas, dân và đất nước Ukraine bị bom và hoả tiễn Nga tàn phá, các nước lân cận bị hoạ lây khi gánh chịu các làn sóng dân tỵ nạn. Cùng số phận nạn nhân, có các nước Phi Châu như Sudan, Nigeria. Xa hơn là Afghanistan với hàng chục năm chiến tranh với sự “giúp đỡ “ hai phe đối nghịch nhau Mỹ, Nga.
Riêng Việt Nam, Kampuchea…sau tháng 4/1975 cũng liên miên có các cuộc va chạm chết người vì tranh chấp biên giới. Ngoài ra còn các đụng độ lớn nhỏ như Ấn – Tàu, như Pakistan – Ấn, và gần đây nhứt là các cuộc đụng độ Thái Lan – Cambodia[12].
Như đã nhắc trên đây ngoài chiến tranh, các lý do gây tổn thương tâm lý rất nhiều và đa dạng, mức độ tổn thương cũng chịu ảnh hưởng thể chế chính trị[13], cá tính, khí chất nạn nhân và điều kiện môi trưòng xã hội văn hoá, nhưng nói chung các nguyên nhân đều giống nhau và gây những hậu quả tương tự[14]. Và tất nhiên các biện pháp đối phó chữa lành hay dự phòng càng đa dạng được phổ biến hơn.
Một giả thuyết là sự chia rẽ, căm thù tồn tại ít nhiều giữa người trong và ngoài nước, giữa Bắc và Nam biết đâu mang dấu vết của những chấn thương lịch sử chưa được giải toả. Đây là một chướng ngại không nhỏ cho sự tăng trưởng của đất nước. Và vài biểu lộ/chướng ngại cùng giải pháp được dùng ở đất nước khác sẽ được kể ra trong phần sau.
Khi hiện tại đầy bất trắc, tương lai mù mịt, đau khổ chồng đau khổ, chấn thương tiếp nối chấn thương, theo cách tính trên, tỉ lệ người sống sót trên ba chục triệu dân Việt hai miền Nam Bắc sau hơn 20 năm nội chiến (1954-1975), và các cuộc vượt biên, phải có từ một triệu tới 10 triệu hay hơn nữa hiện nay trong nước và hàng trăm ngàn đến cả triệu người Việt tại hải ngoại.
Những tổn thương mất mát chia lìa được thật sự lặp lại hay tái lập với thời gian khiến các câu chuyện được kể có thể không bị ảnh hưởng nhiều ( xem lại chú thích 18) khi ta tổng hợp các hồi ký xuấn bản lần lượt tại hải ngoại. Thí dụ về các trại cải tạo cho kẻ bại trận miền Nam (sau 1975), về các cuộc cải tạo tư sản ở Bắc và Nam (1954 và 1975). Thí dụ các trường hợp kể lại hiện nay trong nước với những khách mời thuộc phe bại trận (xem thêm chú thích 39).
Các phương pháp trị liệu chữa lành nhấn mạnh đến Résilience
Tại các nước thắng trận thế chiến như Pháp Mỹ Nga[15] cũng như nước thua trận phe trục Đức Nhật Ý… phải đối đầu với đau thương đổ nát, thiếu thốn, vì phải bồi thường chiến tranh (Đức, Nhật), tái thiết đất nước và nhất là chữa trị những người bị tổn thương tâm lý, khi nhân lực là nguồn năng lượng ưu tiên. Các nhóm nghiên cứu tâm sinh lý, giáo dục tại các nước Âu Mỹ nhờ các cố gắng và áp dụng trải nghiệm của các người đi tiên phong, tạo được nhiều thành quả khiến quốc gia họ tiếp tục phát triển và giữ vị thế cường quốc. Tại Pháp Boris Cyrulnik là một trong số người đã đóng góp rất nhiều vào việc hồi phục tâm lý bị tổn thương.
1. Boris Cyrulnik
Boris Cyrulnik (BC) sống và lớn lên, làm việc tại Pháp, bác sĩ thần kinh chuyên về tâm thần học, phân tâm học. Công trình lớn nhất của ông là việc phổ biến khái niệm phương pháp Résilience.
Résilience trong vật lý học nói về đặc tính bật trở lại trạng thái cũ của thứ kim loại sau khi bị bóp méo, kéo căng thí dụ bởi nhiệt lực. Trong tâm lý học đó là “ tái sinh (vượt qua/ nhảy bật) từ đau khổ ” khởi đầu do Edward Bowlby, một nhà phân tâm học người Anh, khi nghiên cứu về các thanh thiếu niên sau thế chiến II.
BC định nghĩa résilience là khả năng tiếp tục phát triển sau một chấn thương, là một quá trình phụ thuộc nhiều ở chính nạn nhân và vào mối quan hệ tốt lành của nạn nhân với xã hội[16]. Như nhiều nước đông Âu khi bị Đức (Quốc xã) chiếm đóng, Pháp phải thực hiện chính sách bài Do Thái [17]. Gia đình BC gốc Do Thái (cha người Ukraine và mẹ Portugal, sang Pháp từ năm 1930 và BC sinh ngày 26-7-1937 khi cha mẹ ông bị bắt và bị giết chết trong trại tập trung, riêng ông từ năm 4 tuổi, được cha mẹ gởi giấu đi nơi khác. Nhưng hai năm sau, trong trận càn quét lớn tại Bordeaux, chú bé BC bị bắt nhốt chung với trẻ con khác trong nhà thờ đạo Do Thái, ngay trước khi di chuyển ra khỏi Pháp vào trại tập trung, chú nhanh trí trốn lại trong cầu tiêu và sau đó một cô y tá cứu giúp đưa đến nơi an toàn. Sau chiên tranh, được người dì ruột duy nhất sống sót nuôi dưỡng. Lớn lên BC trở thành bác sĩ, chuyên về phân tâm học, tâm lý học, nghiên cứu và tham gia vào nhiều phong trào, tổ chức trong các lãnh vực này.
Cuộc đời và hành trình tự thân đi lên được ông kể lại qua nhiều quyển sách[18] được đọc và trao tặng giải thưởng khiến ông nổi tiếng và ảnh hưởng lớn tại Pháp. Ông phổ biến khái niệm résilience từ kinh nghiệm cá nhân và nhấn mạnh ảnh hưởng sự đóng góp nâng đỡ của xã hội quan trọng trong quy trình chữa trị và phát triển với khả năng tự kể lại của các nạn nhân bị chấn thương. Từ bỏ cơn đau tức thời (douleur) đón nhận sự khốn khổ sầu thương bi thiết (souffrance) với tâm thái giữ khoảng cách, vì cơn đau đã tới, không tránh được nhưng sự khổ sở có thể được chuyển hoá ý nghĩa trong chiều hướng tích cực vì nó đến sau. Vai trò các điểm tựa cốt yếu cho cá nhân ấy là con người ( trong hội đoàn/ bác sĩ phân tâm học, gia đình, thân quyến, bạn hữu) hay văn hoá nghệ thuật (âm nhạc, thi ca, hội hoạ, văn chương). Một nỗi bất hạnh tuyệt vời, – ý nghĩa oxymore trong lý luận BC- con người là sinh vật duy nhất biết kể chuyên[19]. Khi kể cần đến ký ức và kể chuyện đời mình là hành trình vừa nhìn lại quá khứ đau khổ và chấn thương vừa tái tạo nội lực, cần được nhìn nhận và chia sẻ.
2. Những nhà nghiên cứu và phương pháp ứng dụng khác[20]
Đặc tính cá nhân được nhấn mạnh: Đó là quá trình hồi phục, một phần nào tự nhiên, phần khác được môi trường xã hội nuôi dưỡng cho phép cá nhân có khả năng thích nghi tốt với nghịch cảnh và kỹ năng đối phó, làm chủ cảm xúc và biết tiếp cận các dấu hiệu báo trước căn bệnh; tìm ý nghĩa cho cuộc sống, nội tâm tự do trong khó khăn, đau khổ. Tóm lại khả năng chống chọi lại mọi thứ căng thẳng chướng ngại lớn nhỏ trong cuộc sống nhờ các đức tính: lòng tự trọng, tinh thần lạc quan, khả năng chấp nhận nghịch cảnh nhưng đi tìm giải pháp, từ chối vai trò nạn nhân; nhận trách nhiệm và biết nương tựa vào sự hỗ trợ tích cực của gia đình, xã hội, văn hoá trong hệ thống và kế hoạch xây dựng tương lai
* Vai trò cộng đồng và xã hội được nhấn mạnh
Nghiên cứu trước thế chiến cho đến nay xác nhận: không thể có sức bật hay hồi phục cá nhân thật sự nếu không có tương tác tích cực giữa cá nhân ấy với môi trường gia đình, xã hội và văn hoá.
Nói chung: Không phủ nhận tổn thương hay đau khổ và tìm ra ý nghĩa cuộc sống Không xem khả năng hồi phục có tính chất bẩm sinh mà nhấn mạnh về quá trình tái cấu trúc con người qua sự kể lại đời mình, không chỉ trở lại như trước, mà có thể vượt trội nhờ sự tương tác tích cực giữa cá nhân và những hỗ trợ đến từ quan hệ với gia đình, xã hội và văn hoá[21].
Tổng quan tóm tắt các điểm quan trọng trong phương pháp chữa trị tâm lý, hàn gắn các vết thương theo thời gian, kinh nghiệm, được cải tiến, đào sâu và bổ túc :
* Khi thảm hoạ xảy ra hay lặp lại, phải chấp nhận rằng hoang mang, hoảng sợ, buồn bã, im lặng, khủng hoảng, lo âu, tránh né khi cảm nhận nguy cơ thảm hoạ tái hiện,…là phản ứng tự nhiên và việc chia sẻ cảm xúc/kể lại đời mình với người thân, bạn bè hoặc chuyên gia tâm lý giúp giảm căng thẳng, tạo cảm giác được thấu hiểu và an toàn. Chấp nhận ký ức và thông hiểu lịch sử /quá khứ để câu chuyện kể lại được rành mạch, đây là sự “gặp gỡ khó khăn” rắc rối giữa ký ức và lịch sử khi có những chướng ngại về thời gian, tâm lý và các yếu tố khác ( xin xem lại chú thích 18)
* Cá nhân – ngoài nội lực + tư chất như tư tưởng lạc quan, ý chí quật khởi, thấu cảm, có tinh thần trách nhiệm v.v. kế thừa từ gien và giáo dục + tình thương gia đình,với các đức tính nói trên, phải có mối tương quan tốt với bên ngoài, nghĩa là không đơn độc, kết nối nương tựa, đồng hành với các cột trụ của xã hội trong nhiều mặt, cuộc tái cấu trúc này mới thật sự thành công.
V. Thế giới và Việt Nam tự chữa lành ra sao.
Do vậy có thêm các nghĩa khác của Résilience là sự kiên cường, quật khởi, trỗi dậy từ đau thương, nghịch cảnh và vượt qua khó khăn, tạo thành quả tốt đẹp cho cá nhân và tập thể. Trong nghĩa này vài trường hợp tổn thương vật chất và tinh thần ở mức độ quốc gia tương đương nhau có các đại biểu Do Thái, Đức, Nhật, Đại Hàn, Kampuchea và Việt Nam, các phương cách đối phó cho tâm lý cũng tương tự như ký ức cá nhân và lịch sử, tương tác và đoàn kết vượt lên để chữa lành và xây dựng tốt đẹp, mạnh mẽ hơn trước.
*Tại các nước từng gánh chịu tổn thương nặng nề.
Trường hợp thế giới :
Các nước bại trận tiêu biểu trong 2 thế chiến: Đức, Nhật và nạn nhân Do Thái, trước khi lập quốc. Sau cuộc chiến tranh lạnh với vài trường hợp đặc biệt nóng[22] (chiến tranh uỷ nhiệm hay nội chiến : Việt Nam, Kampuchea, và Đại Hàn) kéo dài mấy thập niên.
Về mặt vĩ mô quốc gia hay cộng đồng lớn, các nước đều tổ chức những lễ hội tưởng niệm, ghi nhớ, biết ơn…Chúng giữ vai trò như “ khung” cho tâm hồn dân tộc không bị suy sụp, phát huy hàng năm. Các buổi hòa nhạc tưởng niệm, những bài thơ hay tác phẩm văn học về chiến tranh giúp chuyển hóa “tiếng hét hãi hùng” thành “lời tự sự có cấu trúc“.
Người Nhật nhắc nhở bom rơi ở Hiroshima và Nagasaki như bài học kinh nghiệm cho các thế hệ đến sau. Chấp nhận điều kiện bó buộc nhục nhã cũng như cam nhận giúp đỡ kiến thiết của kẻ thù.
Các cường quốc khác Do Thái, Đức có được khế hợp hoàn hảo này[23] cũng nhờ bản sắc dân tộc và truyền thống.
Đức: Từ đại cường quốc thua trận cuối thế chiến II, tan tành với số mạng Hitler, bị chiếm đóng và chia đôi bởi các cường quốc thắng trận năm 1949 và cũng chính Đức bắt đầu và kết thúc cuộc chiến tranh lạnh 50 năm sau :
– Đông Đức được liên bang Xô Viết đỡ đầu và hứa hẹn ủng hộ thành lập xã hội chủ nghĩa và sự thống nhất Đông Tây trong tương lai.
– Tây Đức hưởng trợ giúp của Mỹ (chương trình Marshall cùng với Pháp và Anh), theo chế độ tư bản và liên bang cộng hoà dân chủ.
Hai quốc gia này tiến triển theo đường hướng đã chọn/ bị áp đặt, cách biệt hẳn nhau bằng bức tường ngăn đôi hai thủ đô do bên Đông xây vào năm 1961, nhưng giàu mạnh so với các nước khác trong hai khối[24]; lãnh tụ Đông Đức Honecker hy vọng bức tường Bá Linh sẽ trụ vững thêm 50 tới 100 năm nữa, nhưng nó bị dân chúng (đông) Đức leo lên phá sập đêm 9 tháng 11 năm 1989, Tây Đức đã êm thắm thống nhất, cuộc chia cách non nửa thế kỷ chỉ mất khoảng 1200 người trong đó có 600 bị lính giữ tường phía đông bắn chết trong số hơn 100.000 mưu toan vượt biên.
* Cá nhân đặc sắc: Những chấn thương vì chia cắt chắc chắn không đáng kể vì cả nước Đức ngày nay đã lấy lại phong độ cường quốc, với hơn 100 giải Nobel cá nhân trong các lãnh vực văn chương, khoa học… chỉ sau Mỹ và Anh.
Khi bức tường Bá Linh bị phá sập, kéo theo sau đó cuộc tan rã khối Liên Xô, nhiều nước chư hầu tìm lại được tự do và độc lập. Goodbye Lenine, La vie des autres là những phim kể chi tiết cá nhân nhưng rất biểu tượng cho lịch sử tập thể. Thành công của chữa lành và vượt trội với cá nhân, nổi bật trong khoa học hay nghệ thuật hội hoạ âm nhạc, văn chương, điện ảnh (trụ cột văn hoá).
Đúng là sự kiên cường của một dân tộc không đến từ việc “quên đi”, mà từ việc “cùng nhau xây dựng lại ý nghĩa”. Người Đức giữ nguyên các trại tập trung, lò thiêu, phòng xả hơi ngạt…và không tỵ hiềm bầu một người đàn bà tài ba trong nhiều nhiệm kỳ: Angela Merkel, nói lên tinh thần đoàn kết và công bằng của dân tộc Đức. Thủ tướng Angela Merkel xuất thân từ Đông Đức, sanh năm 1954, cá nhân xuất sắc, tiêu biểu cho trí thức tinh hoa Đức.
Còn lại là lòng ái quốc, vốn trí thức, niềm tự hào kèm những phương cách chữa lành cho các tổn thương đã có và tồn tại. Tất nhiên với sự chung sức của mọi thành viên xã hội và khả năng sống chung với thương tổn cũ và áp lực mới.
* Môi trường văn hoá như trụ cột giúp chữa lành: Do Thái, Nhật và Đức, cả ba dân tộc đều có những cá tính mạnh mẽ như lòng tự trọng, tự hào dân tộc, kỷ luật nghiêm nhặt, kiên cường không quên đi hay khép lại quá khứ [25] Không thiếu nhân tài xuất chúng về văn hoá, học thuật, cho nhân loại thừa hưởng những bản nhạc những tác phẩm văn chương triết học lừng lẫy cũng như thành quả tốt đẹp về y học, nhân văn v.v.
Thí dụ Do Thái (Israel) dân số khoảng 10 triệu [26], PIB chỉ thua Anh, Đức và Mỹ..tính theo tỷ lệ đầu người hoặc quốc gia.
Riêng lịch sử Mỹ (dù chỉ dấn thân ở cuối thế chiến 2 và) nội chiến 5 năm, không ngừng gợi cảm hứng cho hậu duệ. Phim Gone With The Wind của V. Fleming theo tiểu thuyết cùng tên của Margaret Mitchell[27], Cold Mountains phim Anthony Mighella. Sách vở phim ảnh tái tạo những cuộc đời cá nhân, những anh hùng công lý (thí dụ Liste de Schindler, thí dụ 12 Years Slaves, Unchained Django, ) bằng phim tài liệu hay tiểu thuyết hoá sử qua các tự sự từ các ký ức cá nhân và tập thể khiến cho lịch sử kể lại được hài hoà đồng nhất. Nói theo ngôn ngữ thời thượng: đất nước dân tộc là một.
Nay chỉ còn Nam và Bắc Hàn (Triều Tiên). Hai đất nước đối nghịch nhau trên nhiều lãnh vực, khá tiêu biểu cho phương hướng phát triển theo chọn lựa tự do hay áp đặt. Triều Tiên như một hạt điện tử quá tự do, ngoài vòng tay Trung Cộng, nhiều tham vọng nên thỉnh thoảng khiến người anh em ruột thịt cũng như láng giềng ái ngại với những lời hăm dọa và các trận thử hoả tiễn trật vuột.
Riêng Việt Nam so với Đức như hai thái cực trong tiến trình hoà bình và thống nhất, lễ hội các chiến thắng quân Nguyên/ Thanh, khởi nghĩa Lam Sơn, Hai Bà Trưng vân vân nhưng trong một thời lịch sử cận đại, chánh thống chỉ dám gọi quân xâm lăng là người lạ.
Trường hợp Kampuchea và Việt Nam
Về gắn kết xã hội, tương tác với các cột trụ văn hoá xã hội trong môi trường sống của người bị tổn thương tâm lý, BC nhấn mạnh rằng những người bị cộng đồng bỏ rơi sau thảm họa là những người khó phục hồi nhất. Phương pháp chữa lành có hiệu quả tốt là tái thiết lập các mối liên lạc dựa vào lịch sử chung. Việc này có thể “dễ dàng” cho Do Thái, Kampuchea; lịch sử và chứng từ thật rõ ràng nhất là cho người Do Thái. Họ có chuyện kể, có trụ cột xã hội nâng đỡ và lịch sử tập thể không thể biến đổi.
Riêng Kampuchea, phần nối kết với thế giới được thấu hiểu và được nhiều cảm tình vì những chuyện kể cá nhân hay tập thể tuy rùng rợn khó tưởng tượng nhưng mạch lạc, trùng khớp và đồng nhất. Tội phạm bị nguyền rủa và kết án, tương tự như những thủ phạm chính của Holocauste; chế độ Kampuchéa démocratique (17/04/1975 – 7/01/1979) đã thảm sát khoảng từ 1,5 đến 3 triệu người (tuỳ cách tính theo thời gian) và tội danh “diệt chủng ” được công nhận[28].
Bị lãnh tụ (Pol Pot và đảng cs khmer đỏ) tuyên truyền theo kiểu mẫu Trung cộng cực tả quá khích; thi hành một phương án làm sạch đất nước, giống hệt gestapo thời quốc xã, từ trong việc lập danh sách tử tội, giết cả người Chiêm và Việt, giết bằng mọi cách. Tất cả bằng chứng của người sống sót cũng như chủ ngục hay đao thủ phủ đều đồng nhất, không một gợn bóng tối hay nghi ngờ. Ngoài phim The Killing Field (1984) với bối cảnh được xây lại rất sớm theo lời kể chuyện cá nhân và tình bạn trong thời Shihanouk và Lon nol rồi cộng sản khmer đỏ[29] và một Rithy Panh [30], Angelina Jolie cũng làm phim về cuộc diệt chủng này Ngoài ra còn có những tác giả và tác phẩm Anh Mỹ Pháp[31] vv. Những cá nhân kiên cường đã vượt qua tổn thương và ngoài việc tạo được danh tiếng nhưng đồng thời là chứng nhân cho lịch sử, họ là thí dụ minh chứng lời BC.
Riêng Việt Nam trong một chiều hướng nào đó, tại miền Nam, khó có chuyện kể tập thể đồng nhất, (chú thích 19): chính thức về lịch sử; gần như chỉ có tài liệu chính thống, thường nhằm cổ võ và biện minh cho người chiến thắng: toà án của Bertrand Russell năm 1967, các vụ thả bom ở Hà Nội hay ở miền Nam, tàn sát thường dân do Mỹ hay Đại Hàn[32]. Những khuất tất lịch sử thường bỏ ngỏ hay giải thích một chiều.
Đa số dân đô thị và thành phố Sài Gòn, Gia Định sinh trước năm 1975, không chịu nhiều ảnh hưởng về chính trị, giáo dục của chế độ xã hội chủ nghĩa, những tổn thương riêng lẻ, càng lúc càng riêng lẻ trong dòng chảy chính thống. Nhà nước chính danh lại xoá bỏ có hệ thống mọi dấu vết văn hóa, giáo dục và lịch sử của những người bại trận. Thêm vào đó, lễ hội chào mừng chiến thắng hàng năm, người ta thi nhau kể chuyện anh hùng xông pha bom đạn để xây dựng đất nước huy hoàng ngày nay, đối thủ xưa – chỉ là người ngu si, hèn nhát, phản quốc tổ quốc – ít nhiều bị bỏ lại bên lề, nhà cửa tài sản ngày ấy bị tích thu, con cháu không “đủ điểm” vào đại học, chồng cha, anh, em bị giam tù 3 năm, 5 năm, 10 năm ngay sau ngày ngưng tiếng súng …Họ sẽ nhắc nhở thế nào về quá khứ sau 10, 20 hay 50 năm cho lũ trẻ? Sẽ chỉ có câm nín [33].
Như một cuộc trả thù tập thể với đền bù tương xứng hơn là chia sẻ đau thương với hoà giải và hoà hợp để dựng xây tương lai như lời kêu gọi chánh thức. Một kiểu phân chia giai cấp và chủng loại như chủ nghĩa apartheid.
Hành trình vượt thoát gian nan đối với người sống sót phải có những chấn thương không thể quên.
Từ các quê hương mới, sau một thời gian định thần thích nghi tâm lý và văn hoá cũng gian nan không kém, một số đã thành công, kể lại được hành trình khổ cực hiểm nguy trong cuộc tái cấu trúc cuộc đời và những lý do nghiệt ngã khiến họ rời bỏ quê hương[34]
Được các nước trên thế giới cứu vớt và cho nương tựa nơi các quê hương thứ hai, người Việt tỵ nạn gần như lúc nào cũng tìm thấy đồng bào, đồng hương; đồng kỷ niệm đớn đau và nghịch cảnh. Chỉ cần kể ra một thời điểm, một nơi chốn, một biến cố gây khốn khó là họ thấy ngay bạn đồng cảnh ngộ. Ít ai không có anh, em, chồng, cha, cậu chú…đang là cột trụ, là chỗ dựa, là tình thương, tình yêu, bỗng bặt tung tích vì bị tù (cải tạo hay tội vượt biên) hay chết trên biển, trong rừng…Các quyển hồi ký về tù cải tạo lần lượt xuất hiện rất sớm[35].
Những hồi ức và tự sự cá nhân này giúp cho đa số không biết cách kể lại có hệ thống và mạch lạc, tìm thấy mình trong đó. Cho nên những người bị tổn thương cũ, ở hải ngoại có hy vọng được chữa lành vì hội đủ điều kiện cần và đủ để bật dậy hồi phục tâm lý và thành công trong các lãnh vực khoa học kinh tế văn chương âm nhạc[36]. Dĩ nhiên còn có những tự sự đến từ những sử gia và chứng nhân lịch sử gốc ngoại quốc[37].
Họ đã kể chuyện, viết hồi ký về chuyện tù cải tạo[38] về vượt biên, về chuyện cải tạo tư sản, đổi tiền, chuyện đi kinh tế mới. Có những hồi ký chỉ dành riêng cho gia đình, con cháu. Nhiều người kể lại rất rành mạch. Qua những chuyện kể, trước nhất thông tin rõ ràng cho thế hệ con cháu (và toàn thế giới) biết mảng lịch sử thê thảm sau khi hoà bình trở lại và hơn thế nữa chứng tỏ lòng kiên cường quật khởi tự thân cũng như sự thấu cảm của dân sở tại để làm lại cuộc đời nơi đất mới, Tại các nước này những tổ chức xã hội, tôn giáo y tế đã làm vai trò các trụ cột khiến họ thành công trong cuộc sống và quay về giúp đỡ gia đình còn lại trong nước.
Con đường của người Việt sống sót và bị chấn thương qua 3 đợt chạy trốn tháng tư 1975, cuối thập niên 1970 với thuyền nhân boat people, đợt 1980 -1990 [39]( 850 000 vượt biên ) dường như được chữa lành nhờ tương tác tốt đẹp giữa cá nhân và môi trường mới.
Về chiến tranh Việt Mỹ, các con cháu họ hiểu lịch sử một cách tương đối công minh qua học đường (tuy là thuộc phe bại trận!) nhưng lịch sử nước Mỹ không chỉ là lịch sử cuộc chiến này!? Chính những chuyện kể về sau sẽ vẽ lại lịch sử chung cho những trang sử bị xoá ở quê hương[40]. Dĩ nhiên có những thái độ thù hận vượt mức ở đôi bên khi tự thân có trải nghiệm quá đớn đau khiến tiến hoá về chữa lành và quên lãng sẽ rất chậm chạp + thêm sự trì trệ trong tri thức, thêm tự ái và tư lợi đặt trước sự tiến hoá cần thiết cho đất nước, vì những năm tháng tuyên truyền nhằm giữ gìn quyền lợi độc tôn, nhưng khi sự thật phơi bày, các giải pháp sẽ đến.
Bởi vì cũng như bao người trẻ khác trên thế giới, thế hệ trẻ trong nước hay hải ngoại có những bộ óc và lòng tò mò tự nhiên. Họ muốn tự mình tìm hiểu và suy nghĩ thấy ra khe hở hay vô lý gây trở ngại cho con đường phát triển và hình thành một con người đúng nghĩa. Trong nước, họ sẽ tìm hiểu sự thật khác và lịch sử khác qua không gian mạng và truyền thông phi chánh thống. Youtube, podcast Facebook sách vở hồi ký lưu hành ngoài luồng ebook v,v văn chương trong và ngoài nước, qua các tư liệu các cựu đảng viên đảng cộng sản, hay riêng tư hơn nữa, qua ông bà cha mẹ với những chi tiết nhỏ bé nhưng đáng tin, qua phim ảnh, thơ nhạc cũ.
Những tìm hiểu tự thân nếu thiếu trưởng thành, dễ đưa đến hai thái cực: hoài nghi, phản kháng quá khích và ở giữa là những thái độ trưởng thành, biết dùng những khoảng cách an toàn tự vệ tiếp tục thể hiện sức sống và tinh thần tìm hiểu, không vô cảm hay buông xuôi.
Thời kỳ truy đuổi và săn lùng, bạo hành những người dấn thân phản kháng hay theo hướng khác như Trần Huỳnh Duy Thức, gia đình Cấn Thị Thêu, Phạm Thị Đoan Trang… đã qua (tuy họ vẫn còn bị giam giữ, trừ THDT), thời kỳ các phản kháng mạnh mẽ thiệt/giả để được thoát ra ngoại quốc cũng đã qua nhưng hy vọng vươn lên khi nghe các người trẻ như Dưa Leo, Nhân (không) nói nhảm, Phan Thuý Hà, Dương Quốc Chính, Nói hay Chết …, khán thính giả; độc giả cũng ngậm ngùi nhận ra những giới hạn và gò bó trong phần đất nhỏ bé riêng tư dù họ đã mạnh mẽ dám đề cập đến lịch sử, tuy chậm mà chắc và dĩ nhiên rất kín đáo. Thí dụ * Nhân nói nhảm, khi phê bình phim nói chung hay Quán Kỳ Nam của Leon Lê ( và Nguyễn Thị Minh Ngọc) về những chi tiết nửa vời hay bỏ ngỏ. Nét nhăn mày, bĩu môi cũng như lời nói (rất có duyên) của Nhân diễn tả nhiều những giới hạn rào đón “tự đặt” luôn luôn có trong các poscast của mình, phần cuối em luôn có một bài thơ, một bản nhạc xưa rất ý nghĩa được em hát đôi câu (tuy đa phần sai giọng).
Xem Dương Quốc Chính TV khi tác giả này tìm đến phỏng vấn những chúng nhân thuộc chế độ VNCH cũ hay oan ức Lộc Vàng, người tù miền Bắc vì hát trước ngày thống nhất những bài hát của miền Nam. Các nhân vật như Đỗ Hồng Ngọc, Đỗ Trung Quân, Lê Nguyễn, Tuấn Khanh… là minh chứng cho résilience theo Boris Cyrulnik, họ đã sống còn và nổi bật tính danh với những bài viết hay phỏng vấn ngày nay. It nhiều đã nghiễm nhiên đem lại sự thật về những trang sử bị bôi bác về miền Nam thua trận trong các lãnh vực giáo dục, truyền thông, văn hoá.
Vai trò của truyền thông RFI, BBC cũng thế.
Các em các cháu theo dõi các tổ chức này là những đại diện cho người can đảm khát khao sự thật nhưng thiếu phương tiện, thiếu thông tin. Chỉ cần nghe sẽ hiểu những thắc mắc của giới trẻ (Nhân hay nói ngày xưa đọc báo để có kiến thức ngày nay phải có kiến thức mới đọc được báo, chỉ vì sự đồng bộ và né tránh những “nhạy cảm” của tin tức do truyền thông và giáo dục chính thức.)
Tuy đôi lúc (tôi) thương cảm các em các cháu đã mất thì giờ công sức để tìm kiếm những mảng tin, những vụn vặt lịch sử để rồi sẽ đớn đau, bất bình với kết quả tìm thấy, thay vì vui chơi, học hành hay hoàn thành những tác phẩm nghệ thuật, vui mừng với những thông điệp tích cực: Sống là hy vọng, ở nhân tính và lương tri, để thay đổi và vượt lên, cho dù có hay không bị tổn thương vì cuộc đời quá khứ. Mọi cá nhân can đảm sáng suốt công bình sẽ là sức đẩy cho đất nước tiến lên.
Ý muốn đầu tiên của Táo bất đắc dĩ chỉ là : một cơ hội cho cóc nhảy ra khỏi hang, dòm quanh quất nghe ngóng rồi như Lục Vân Tiên, lại cõng mẹ trở vô, thật ngã mạn nhưng xin vớt vát: cũng cần chút can đảm đụng cột nhà.
Cầu mong Ngọc Hoàng Thượng đế soi xét cho lời cầu khẩn này, nhà nhà bất kỳ là ở đâu được thông cảm, thấu hiểu, chữa lành để an vui tự tại, các con cháu tự do phát triển, xây dựng tương lai mình và đất nước.
Phan Thị Trọng Tuyến
13/02/2026 – 2/03/2026
[1] Giản dị và được nhà quê ưa chuộng; các bloc/cọc lịch ngày âm dương, tờ mỏng, in chữ trắng đen và đỏ ghi rõ lễ hội cần nhớ, ngày lành tháng tốt cho nhiều việc trong xã hội và giao dịch.
[2] Điều khác khiến chạnh lòng người xem là những người này, đa số nét mặt vô cảm, đăm chiêu, nhẫn nhịn, không nói lời chào, cám ơn hay tỏ thái độ cảm kích khi đưa tay nhận phần thức ăn từ thiện. Vì quá mỏi mệt? Vì không còn niềm tin nơi con người? Một cách giữ gìn phẩm giá?
[3] Trong dịp sửa soạn ăn mừng chiến thắng lần thứ 30 chiến thắng 30/04/1975.
[4] Vài đính chính và sự thật được lịch sử chính thống nhẹ nhàng nhìn nhận : Không còn gọi nguỵ là nguỵ, ngôn từ hoà dịu giải mã những bịa đặt về Lê Văn Tám, Võ Thị Sáu, 16 tấn vàng Nguyễn Văn Thiệu, vụ giết người tập thể trong Tết Mậu Thân ở Huế v.v.
[5] vì thiên tai đã có trong niềm vui, vì xót xa đã nhiều thay thế tình yêu đã mất, không còn những cho nhau nụ cười hay cuộc đời mà là còn sầu mang đến cho nhau theo Vũ Thành An, như Trịnh công Sơn không còn hát trên những xác người không người mẹ nào phải chong đèn ngồi nhớ lại từng câu chuyện ngày xưa vân vân vì các phạm trù đối đãi này chỉ là một như lời Lão tử về phúc hoạ hay về sướng khổ như lời Phật dạy?. Vui vì như có bác trong ngày vui đại thắng, vui không phải vì đường ra trận mùa này đẹp lắm. Vui vì con đi“ lao động hay làm dâu” ở Đài Loan Nhật Đại Hàn, Đức, đông ÂuHai chữ xuất khẩu như những món hàng, vừa mới gây sóng tự ái dân tộc, chứng tỏ một sự tỉnh thức không có từ 50 năm về trước
[6] Và cả những người sinh từ 1925 đến 1930, như cha mẹ tôi, sống qua hai cuộc chiến- chống Pháp và ý thức hệ -, đã qua đời “ bình thường trong hoà bình” nhưng những chấn thương tâm lý chỉ có gia đình mới biết nếu họ không để lại sáng tác cùng hồi ký. Riêng cha tôi, để lại những quyển tập còn nguyên những trang giấy trắng!
[7] Mentorshow (https://mtor.sh/evenement-resilience les clés de la Rélisience Ed 2026, bắt đầu 5 ngày với 5 chuyên gia tâm lý học qua zoom, chẩn bệnh, giải đáp thắc mắc miễn phí cho những người bị tổn thương tâm lý, bệnh tâm thần…
[8] Thí dụ các chấn động dư luận xã hội Pháp gần đây: một cô bé 17 tuổi tự tử vì bị bạn học trêu chọc hà hiếp-Trong một thời gian dài một phụ nữ bị chồng phục thuốc ngủ cho người lạ hãm hiếp rồi quay phim- Một phụ nữ bị chồng ghen tẩm xăng đốt cháy, gây bực tức nơi quần chúng vì cảnh sát biết chuyện mà không có biện pháp bảo vệ . Một ông cha công giáo bị một kẻ khủng bố hồi giáo quá khích giết. vv
Cá thể gia đình bị tổn thương được xoa dịu an ủi hay khuyến khích nâng đỡ nhờ những tổ chức do làng xóm hay cả tỉnh hoặc cả nước tham dự với buổi lễ tang, cầu nguyện hay biểu tình đòi hỏi công lý (Thí dụ la marche blanche. Nguồn gốc từ Bỉ, sau vụ Dutroux, cuộc biểu tình thầm lặng không cờ xí biểu ngữ, mặc áo trắng, thường áp dụng cho những nạn nhân của bạo lực nhằm ủng hộ nâng đỡ tinh thần cho gia đình họ
[9] Hầu hết là những hoạ sĩ tài ba chuyên về trào phúng khôi hài châm chích, đôi khi độc địa. Trước đó họ vẽ bức hình bị nhóm quá khích cho là động chạm đến bậc chí tôn Hồi giáo.
[10] Trong hiện tại Âu châu sống trong nỗi lo sợ và ám ảnh của chiến tranh với Nga và khủng bố. Đa số phân phát cẩm nang chỉ dẫn cách dự phòng và khi có tấn công vũ khí hạt nhân,trữ thức ăn, đồ cứu thương v.v.
[11] “Chiến dịch quân sự đặc biệt” cụm từ mới che mắt thế gian khi chỉ cần ngồi nhà bấm nút pháo kích qua nước địch thủ.
[12] Cambodge= Kampuchea ou Royaume du Cambodge=Combodia; Kampuchea démocratique tên dưới thời khmer rouge
[13] Sau thế chiến, tại nước lớn theo chủ nghĩa cộng sản dưới thời quốc cộng như Nga hoàng &Staline, Trung Hoa với Mao Tse Tsung -Tsang Kai chek…con số Con số 100 triệu nạn nhân do nhóm nghiên cứu của S. Courtois đưa ra trong Le livre noir du communisme (Sách đen về chủ nghĩa công sản) – nạn nhân của Stalie & Mao 85 triệu và 1 đến 2 triệu ở các nước chư hầu Kam puchea , Bắc Hàn và Việt Nam, Cuba ( cùng các nước châu Mỹ La tinh va Phi châu) – gây nhiều tranh cãi về sự chính xác trên quan điểm sử học. Người bất đồng chính kiến với nhà nước (dissidents) bị xem có bệnh tâm thần. Xem tiếp chú thích 9
[14] Các con số bệnh nhân sống sót tổn thương trở về từ các bệnh viện và trại tập trung lao cải hay lao động không được nghiên cứu kết toán.
[15] Con số khoảng 100 triệu người thiệt mạng ( không tính Liên Xô và Trung Hoa – ước tính 27 triệu và 20 triệu)
[16] BC còn có mặt trong các lãnh vực khác như “ Quyền được Chết trong phẩm cách” “Bảo vệ súc vật” . Khi cha mẹ nhờ người giấu BC trong nông trại phía nam, bạn thân của chú bé BC là một con chó…Có lẽ Crawford Stanley “Buzz” Holling, sinh năm 1930 tại Canada sau 1957 ông về Florida…được xem là cha đẻ hay người đầu tiên nghiên cứu về Resilience- tại các đại học Stockholm Thuỵ Điển, Santa Fe institut, ông viết “ thế giới thật là phong phú, năng động và đáng ngạc nhiên”.
[17] Giết người tối đa với phương tiện tối ưu và bí mật: Kế hoạch tập trung ( tại các nước bị Đức quốc xã chiếm đóng lúc bấy giờ như Ba Lan và Nga..)và giết người Do Thái và “các giống” người mang “bệnh tật”( tâm thần, đồng tính, cộng sản, du mục -gitans-..) bằng hơi ngạt và hoả thiêu xác họ sau khi đã cướp tài sản, nhà cửa của họ.
[18] Đáng kể nhất : Un merveilleux malheur, Một nỗi bất hạnh tuyệt vời; les vilains petits canard, Những con vịt xấu xí; parler d amour au bord du gouffre :,. Nói về lòng yêu thương bên bờ vực thẳm. Tác phẩm mới nhất là Quarante voleurs en carence affective 40 tên cướp thiếu thốn tình thương (2023)
[19] Tant que les lapins n’auront pas d’historiens de lapins, l’histoire sera racontée par les chasseurs. Howard Zinn en exergue : khi thỏ không có sử- gia-về- thỏ thì lịch sử đời thỏ là (phải) do tên thợ săn kể.(Khi tranh luận về phần về Ký ức, Lịch sử và sự lãng quên của Paul Ricoeur). Basillach cũng nhắc Lịch sử do kẻ thắng cuộc viết trong quyển Frères ennemis- anh em thù địch- : lịch sử không công bằng vì luôn lưôn do kẻ thắng trận viết kể.
[20] Michael Rutter, Ann Masten, giáo sư đại học Minnesota nghiên cứu về trẻ con, trong Ordinary Magic: Resilience Processes in Development – Viktor Frankl (Áo) Man’s Search for Meaning (lý thuyết logotherapy) chịu đựng chỉ để sống sót Nhóm APA (American Psychatric Association có từ thế kỷ 19 ở Mỹ 1844 với cẩm nang Chẩn đoán và Thống kê Rối loan tâm thần DSM (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders) xuất lần đầu 1952, sửa đổi và cập nhật liên tục cho đến nay (2015 xb lần thứ 5. DSM-Ursula Nuber và Judih Hermantrong Trauma and Recovery 3 điều kiện : an toàn-lời nói – kết nối và Yehuda Bauer Holocaust & ký ức Do Thái Nicolas Abraham & Maria Torok The Shell and the Kernel hậu quả tổn thương cho thế hệ sau, qua im lặng chứa đầy cảm xúc.Heonik Kwon Ghosts of War in Vietnam nói về Ma và cầu hồn nơi trước đây có cuộc thảm sát dân làng gây ra do lính Nam Hàn.
Christina Schwenkel The American War in Contemporary Vietnam
[21] * Maurice Halbwachs (1877-1945) cũng như BC, gốc Do Thái, đề cậo đến vai trò ký ức tập thể la mémoire collective trong Cadres sociaux de la mémoire nói về ảnh hưởng của tập thể và xã hội trong ký ức cá nhân Hồi ức hay nhớ lại để kể về quá khứ và trải nghiệm các chấn thương, không đơn giản với văn học và triết lý với tri thức và vô minh.
* Cathy Carauth (Unclaimed Experience) . Từ những hiểu biết sâu sắc về phân tâm học, lý thuyết văn học và các cân nhắc đạo đức với “Trải nghiệm không được thừa nhận” bà Caruth định nghĩa lại chấn thương và các cách thể hiện của nó,
* Paul Ricoeur giáo sư và triết gia nổi tiếng của Pháp, nghiên cứu về Hermeutique và Phenomenologie trong quyển La Mémoire, l histoire et l’oubli Ký ức, lịch sử và sự lãng quên, phân tích sự thông hiểu và diễn dịch một bài văn qua các thế hệ. Xin xem các bài phân tích về Retroject của Mai Thanh Truyết.
[22]. Tại châu Phi các cuộc xung đột vũ trang vì chính trị, tôn giáo hay chủng tộc vẫn tồn tại.
Tại châu Á; Indonesia, tình hình rất giống Việt Nam thuở trước, ngoài cuộc chiến giành độc lập với Hoà Lan – Pays Bas- và đương đầu với Anh khi Anh đến giải giới Nhật, từ 1945 đến 1948 và sau đó, quốc gia này cũng có cuộc nội chiến vì tôn giáo (Cộng hoà và Hồi giáo) và chính trị (cộng sản và tư bản), nhưng (về mặt ngoại giao) đã khéo léo dàn xếp với ngoại quốc nên nhanh chóng giành được độc lập và “dẹp loạn”, để không có nội chiến dài lâu.
[23] Do Thái : tôn giáo và Shoah là kết nối vững chắc giữa cá nhân và lịch sử/tập thể, ký ức cá nhân ở khắp nơi không khác nhau, chứng từ lịch sử đầy đủ và được thế giới xác nhận. Nước Đức kỷ niệm ngày thống nhất rất đơn giản và tốt đẹp, không có tự ca ngợi hay gièm pha đối thủ sộng sản cũ. Chỉ có tài liệu và chứng từ về đời sống ngèo nàn hà khắc về tự do cũ bên Đông được giữ lại trong các viện bảo tàng, cũng như vài mảng tường kỷ niệm cuộc phân cách.
[24] Chỉ kém Ba Lan, Roumanie vì những nước này đã cải tổ sớm hơn Ngày nay PIB của nước Đức thống nhất 4305 tỷ euros (2024) khi Pháp hạng nhì với 2920 tỷ…
[25] Tuyên bố trong cuộc phỏng vấn (chú thích 3), ông Kiệt nói thêm “ cần khép lại quá khứ…” , với lễ hội tưng bừng hàng năm, người ta có thể hiểu ai buồn thì nên quên quá khứ đi.
[26] Kinh tế đứng thứ 17 với gdp trên 50 000 usd (2024)ngoài 3 Nobel hoà bình ( Begin, Peres, Rabin đều gây tranh cãi, như các giải hoà bình khác Kissinger Lê Đức Thọ) Do Thái còn 11 giải Nobel trong các lãnh vực khác Khoa học, kinh tế, văn chương, Israel cũng cứu giúp và đón nhận thuyền nhân Việt (tài liệu usvietnam.uoregon.edu/thuyên-nhan-viêt-nam-o-israel/)theo tài liệu do nhà nghiên cứu Trần Quốc Nam dịch.
[27] Tương tự E. Hemingway với Chuông gọi hồn ai (For whom the bell tolls) nổi danh sau thế chiến I nhưng ông -có lẽ không tự chữa lành chấn thương tâm lý được – tự tử vào tháng 7 – 1961. Có giả thuyết cho rằng FBI có dính líu vào việc tự tử này, dù sao ta cũng thấu cảm được tâm lý và trầm cảm cuối đời. Sam wood thực hiện phim cùng tên.
[28] Ngày nay Kampuchea xử phạt hình sự những ai chối từ hay cố ý giảm thiểu sự thậr diệt chủng này ( 1 đến 5 năm tù và 2500 đến 125000 usd tiền phạt)
[29] Douch, Khieu Samphan Nuon Chea bị xử về tội diệt chủng.
[30] đã kể chuyện riêng gia đình lồng trong biến cố kinh hoàng quê hương, bằng lời kể và qua phim ảnh dù biến cố xảy ra cho Kampuchia khi ông chỉ 11 tuổi S21 la machine de mort khmere rouge (2002) S21 cổ máy tử thần của khmer đỏ, L’élimination, l’image manquante, la paix avec des morts ( viết chung với nhà văn Christophe Bataille) Cuộc thanh trừng/toán, Thiếu Bức ảnh/ Không có hình, Hoà bình với người khuất mặt. (Làm hoà với người chết ) và phim tài liệu Bức hình thiếu ông thực hiện theo sach Cuộc Thanh Trừng đựợc giải thưởng Cannes.Phim mới nhất Rendez- vous avec Pol Pot Buổi hẹn với Pol Pot, sắp được trình chiếu.
[31] David Chandler, Ben Kiernan, JM Margolin, O.Weber vv
[32] Mỹ Lai, Hà My.
[33] Nói về chấn thương tâm lý, báo chí trong nước hay nói về các cựu chiến binh…Mỹ, đại khái nếu không nghèo đói, điên khùng sống vất vưởng thì hối hận và trở về VN làm… từ thiện. Hối hận có phải là bệnh tâm thần? Và làm từ thiện là một trong các cách chữa ? Các chấn thương chiến tranh trong link sau chỉ nói về người của phe thắng https://tuoitre.vn/gan-30-nam-sau-chien-tranh-nhieu-nguoi-van-con-stress-24636.htm#:~:text=
Như một trả thù tập thể khi nhìn lại chuyện chính quyền đổi tiền, đuổi người Hoa, bắt “ngụy’ lên sinh sống khai thác những nơi hoang vu không cơ sở hạ tầng gọi là vùng kinh tế mới và bắt công chức cao cấp hay sĩ quan vào các trại cải tạo, xếp hạng lý lịch sàng lọc thí sinh vào đại học hay tìm việc làm.Cho nên ra đi đối với nhiều ngưới khi đó là giải pháp duy nhất.
[34] Từ 1975 đến 1985 theo báo chí Pháp, có khoảng 1, 1 triệu người vượt biên, 600.000 trốn bằng đường biển, và gần 200 000 (đến 500000?) không bao giờ tới bến. Năm 2019 có 39 người Việt vượt biên (sang Anh quốc) bị chết ngạt trong xe chở hàng đông lạnh.
[35] Hồi ký quốc gia : chứng từ trên site này và các websites khác. Vô số hồi ức viết/kể từ Úc, Canada, Mỹ, Pháp vv
Vbpm.com.au, một vài thí dụ mới xin cho một đời tạ ơn, hồi ký tỵ nạn( Tượng đài Thuyền nhân VIỆT NAM). Tác giả Jana Lipman ( tạp chí Nghiên cứu Việt Mỹ) xb 2020 về người Việt tỵ nạn từ 1975 đến 1990…
Đặc biệt hồi ký Lâm Hoàng Mạnh, người Việt gốc Hoa, ra đi từ miền Bắc và các nhà văn miền Nam cũ (chú thích 38).
[36] Các thế hệ 1 rưỡi và 2 & 3 ở hải ngoại ngoài những thành công trong chính trị, văn học hay văn chương như Nguyễn Thanh Việt, Ocean Vương…còn có nhưng dư chấn vượt qua như trường hợp chú thích 42
[37] John Prados, mất năm 2022 La guerre du Viet Nam 1955-1975 (xb 2011), Tm Obrien ( The things they carried ) Neil Sheehan, mất năm 2021 L innocence perdue (2011) Putain de mort (Michael Herr mất năm 2016) đã cộng tác với FF Coppola – Apocalypse Now– và Stanley Kubrick –Full Metal Jacket-những phim hay nói về thảm hoạ chiến tranh, được giải thưởng lớn…Đa số nói về
[38] Một trong các hồi ký đầu tiên ở hải ngoại về việc này có Tạ Tỵ, Hà Thúc Sinh, Hoàng Liên…về sau có các chứng từ khác về các cuộc ra đi của người Việt gốc Hoa, và thời gian gần đây là các chuyện kể lại bằng lời rất giá trị gây xúc động, nhất là từ những người biết sắp đặt và có cái nhìn sáng suốt. Thi sĩ Trạch Gầm là 1 thí dụ rõ ràng và hấp dẫn
[39] Sau cùng là các đợt đoàn tụ gia đình, sinh viên du học
[40] Về bệnh tâm thần của người Việt hải ngoại xin đọc :



