
Khoảng 1950-1951 đang trên ghế học trò tại Hà Nội, tôi đã bị cuốn vào sinh hoạt văn nghệ với niềm vui sáng tác thơ, văn gửi cho các báo Cải Tạo, Ý Dân, Giang Sơn, Tia Sáng Đặc San… Do đó, cuối năm 1955 gặp lại Huy Sơn vừa từ Hà Nội di cư vào Nam, tôi đã trao cho bạn một bài thơ ghi các hình ảnh Hà Nội thân thương mà lúc đó tôi đang viết cuốn truyện dài Những Người Yêu Hà Nội nên luôn nhớ lại.
Bài thơ được Huy Sơn đăng trên tạp chí Văn Hóa Á Châu do anh đang phụ trách toà soạn.
Chuyện hết sức bình thường nhưng lại tạo tai hoạ cho tôi.
Vì vài tuần sau, trên trang nhất nhật báo Ngôn Luận của đảng Cần Lao, xuất hiện một bài viết với tựa đề chiếm 8 cột báo như sau: “Liều thuốc độc bọc đường của tên điệp báo nằm vùng Uyên Thao.”
Bài báo nối tiếp nhiều ngày, báo động về mức nguy hiểm cho miền Nam qua nội dung bài thơ diễn tả nỗi nhớ thương Hà Nội trong khi Hà Nội đã rơi vào tay Cộng Sản.
Một tờ báo tôi không nhớ tên bị tịch thu rồi bị đóng cửa vì lên tiếng phản đối cách đọc thơ của báo Ngôn Luận. Nhiều người đã nghĩ ngày cuối đời đang đến với tôi do thuở đó đảng Cần Lao rất có quyền lực và thường cho các kẻ chống đối chế độ “đi mò tôm” theo lối nói đương thời, tức bắt cóc rồi thủ tiêu bằng cách trói lại, đẩy xuống sông cho nước cuốn đi.
May là lúc đó, tôi thuộc một đơn vị nghĩa quân của Mặt Trận Liên Minh Quốc Gia Kháng Chiến vừa từ chiến khu Bà Đen về Sài Gòn hợp tác với chính phủ Ngô Đình Diệm và chưa rời cây súng. Tôi cùng vài đồng đội đã tới tòa soạn Ngôn Luận gặp chủ nhiệm Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng nên sau đó loạt bài chấm dứt.
Tuy nhiên tôi bỗng thấy sự đọc thơ trên báo quá hài hước nên hết hứng phổ biến và không cho in nữa, dù không thể ngưng làm thơ. Từ đó, mỗi khi có sáng tác mới, tôi chỉ trao cho vài bạn thân đọc rồi gom lại.
Tiếc là giữa năm 1963, hết thẩy bản thảo đều rơi vào tay công an khi tôi bị bắt, rồi cuộc sống lênh đênh giữa thời thế bão táp khiến thơ chỉ còn là những bóng mây với tôi.
Nhưng thơ vẫn là một nguồn tai hoạ.
Vì mấy năm sau, một việc tương tự lại xẩy ra không do bài thơ nào của tôi mà do Truyện Kiều.
Thuở đó khoảng 1958–1961, tôi đang phụ trách mục điểm sách cho nguyệt san Sinh Lực và tuần báo Minh Tân của Hội Khổng Học Việt Nam. Một hôm dân biểu Hà Huy Liêm, giáo sư đại học Văn Khoa Sài Gòn, chủ bút hai tờ báo trên đưa cho tôi bài giảng về Truyện Kiều của một giáo sư đại học Huế.
Trong bài giảng, vị giáo sư đại học Huế cũng là một linh mục đã kết luận sở dĩ Việt Nam bị mất nửa phần lãnh thổ vào tay Cộng Sản năm 1954 chỉ vì đã có một tác phẩm văn chương tệ hại là Truyện Kiều của Nguyễn Du.
Dân biểu Hà Huy Liêm nói phải lên tiếng chứ không thể bỏ qua cách giảng dạy văn chương thế này. Tôi thấy ông có lý nên đã viết bài phản đối cách giảng dạy của vị linh mục đang là giáo sư Đại Học Huế lúc đó.
Chỉ vài ngày sau khi bài tôi viết xuất hiện trên báo, một đêm khuya tôi bị công an đột ngột đến nhà lôi đi.
Tôi bị đưa tới Tổng Nha Công An Sài Gòn ở cuối đường Võ Tánh và tại đây một sĩ quan công an Sài Gòn cho biết tôi bị Đặc Cảnh Miền Trung của cố vấn Ngô Đình Cẩn bắt, tạm gửi ở đây chờ làm thủ tục đưa về Huế. Vị sĩ quan có vẻ lo lắng, hỏi tôi cần nhắn với ai về sự việc để anh ấy giúp.
Lúc ấy tôi có một ông anh kết nghĩa cũng từ lực lượng Cao Đài Tây Ninh về Sài Gòn như tôi nhưng đã thành người thân tín của cố vấn Ngô Đình Nhu nên đang là phụ tá cho bác sĩ Trần Kim Tuyến, điều hành Sở Nghiên Cứu Chính Trị.
Tôi nhờ vị sĩ quan báo cho ông anh biết nên ngay sau đó Công An Sài Gòn được lệnh giữ tôi lại không cho Đặc Cảnh Miền Trung giải đi. Nhờ vậy, tôi đã thoát nạn “đi mò tôm” chắc chắn khó tránh nếu Sở Nghiên Cứu Chính Trị không kịp ra lệnh giữ tôi lại mà để tôi bị giải ra Huế.
Đó là hai chuyện liên hệ đến thơ với tôi mà ít ai có thể nghĩ là thực tế đã xẩy ra với những người chỉ say mê thơ khi tham gia sinh hoạt văn học nghệ thuật.
Trên thực tế, việc Cộng Sản đưa người chống đối “đi mò tôm” khởi từ thập niên 1940 đã lan khắp miền Bắc thời điểm 1945 với nhiều nạn nhân gồm cả các nhà văn tên tuổi như Khái Hưng, Lan Khai… và còn được ký giả Bernard Fall từng tán tụng là “chiến pháp thượng đẳng của chính Hồ Chí Minh để diệt trừ lực lượng chống Cộng Sản.” Tất nhiên chiến pháp này đã lan vào miền Nam để tàn sát thành phần lãnh đạo cùng giáo dân các giáo phái Hoà Hảo, Cao Đài tại Cần Thơ, Quảng Nam ngay từ cuối năm 1945 qua các năm 1946, 1947…
Từ đây, nhiều đoàn thể quốc gia cũng chọn đối pháp này đáp lại kẻ địch rồi hành xử luôn với mọi phe phái đối lập khiến trong giai đoạn 1956 – 1960 nhiều người đấu tranh tại miền Nam trong số có những nhân vật tên tuổi như Nguyễn Bảo Toàn, Võ Tam Anh Nguyễn Phan Châu… cũng nối tiếp nhau “đi mò tôm” theo nhiều cách.
Dù vậy, khi thành tù nhân của Cộng Sản từ tháng 8-1975 tới cuối năm 1986, tôi vẫn trở lại với thơ qua các dòng thơ bất ngờ hiện đến giữa các bức vách nhà tù và đều không có tựa đề.
Cảnh sống lúc đó chỉ cho phép tôi đọc thơ với vài bạn tù gắn bó chứ không thể ghi giữ lại nên năm 1987 đã sững sờ khi tái ngộ bạn tù Vĩnh Hầu lúc anh lén tới thăm tôi đang bị quản chế tại chùa Pháp Hoa năm 1987.
Vĩnh Hầu đặt vào tay tôi mấy mảnh giấy ghi 16 bài thơ mà anh bảo đã chép rồi lén trao cho vợ anh vào các dịp đến thăm nuôi anh mang về giữ lại.
Vĩnh Hầu là bạn tù ở bên tôi nhiều năm tại các trại K3, Z.30A, Z.30B và không giống tù nhân nào. Anh luôn có thăm nuôi, nhưng mọi thứ nhận được đều biến hết ngay trong buổi chiều có thăm nuôi. Thức ăn gom trọn cho bữa ăn đãi các bạn tù côi cút đồng thời thuốc men, quà cáp, tiền nong … đều chia hết cho các tù nhân này ngay sau bữa ăn.
Vĩnh Hầu là vùng lửa ấm với nhiều bạn tù thuở đó và năm 1987, vùng lửa ấm Vĩnh Hầu lại bùng lên với tôi.
Nhờ anh, tôi đã tìm lại được ít dòng tâm tư từng có và nhân đó, cuối năm 1989 còn viết thêm được 2 bài thơ cuối đời, ghi số 17 và 18, do tôi đặt tên theo cách Vĩnh Hầu ghi số khi chép một số bài thơ của tôi trong tù với các dòng cuối nêu rõ ngày tháng và trại tù.
Thật buồn là Vĩnh Hầu vĩnh viễn ra đi chỉ ít ngày sau khi cùng tôi tái ngộ. Gom lại các bài thơ này, tôi mong qua đó sẽ gợi nhắc về “vùng lửa ấm Vĩnh Hầu” mà theo tôi, mọi người có mặt trong cuộc đời, nhất là các bạn tù bên nhau thuở đó, đều cần nhắc nhớ.
Gửi hương hồn VĨNH HẦU,
vẫn mãi nhớ nhau từ cõi khác.
01 –
Chợt rực sáng giữa đêm dài tăm tối
Những bóng hình mãi mãi không phai
Những nẻo đường quê mẹ của ta ơi,
Hà Nội – Sài Gòn trong lòng ta thương nhớ !
Gió hồ Gươm thuở nào bay áo lụa
Tiếng sông Hồng ru giấc ngủ trong nôi
Mái trường xưa Cửa Bắc nắng tháng mười
Trăng Trúc Bạch nửa thu đêm Trấn Quốc
Bóng mát Đường Đôi những ngày chung bước
Tuổi học trò thơm hoa bưởi hoa cau...
Trái ngọt Bến Tre nghiêng sát mái đầu
Sóng nước Cửu Long bồng bênh tiếng hát
Đường tình yêu thênh thang bát ngát
Nắng Sài Gòn đuổi bắt lá vàng bay
Những bước chân quấn quít bao ngày
Những hình bóng không ngừng réo gọi...
Những nẻo đường xưa, ơi Sài Gòn – Hà Nội !
Những nẻo đường quê mẹ thiết tha
Những nẻo đường máu thịt một đời ta
Còn mãi đó, sao mắt nhìn bỡ ngỡ ?
Còn mãi đó sao thịt da tơi tả ?
Người nhìn người sao bỗng hóa oan khiên ?
Bếp lửa ngàn năm tro phủ im lìm
Từng bước nhỏ từng bước buồn tê tái.
Từng bước nhỏ nghe quê hương réo gọi
Những nẻo đường xưa, ơi những nẻo đường xưa !
Những nẻo đường phủ rợp bóng dừa
Những nẻo đường rộn tiếng cười trẻ nhỏ
Những nẻo đường có hoa vàng nở
Có những tia nhìn xanh ngợp sóng yêu đương
Những nẻo đường gom muôn vạn nẻo đường
Chạy dọc suốt năm ngàn năm cũ...
Đi giữa quê hương mà từng giây trăn trở
Đi giữa quê hương mà không thấy quê hương
Đi giữa quê hương không Hà Nội – Sài Gòn
Đi giữa quê hương hóa thân tù biệt xứ !
Đi giữa quê hương mà thương nhớ quê hương !
K3 – 1981
02 –
Bé thơ ơi, sao lặng thinh chẳng nói
Mắt em buồn như những buổi chiều Đông
Hố rác kia sao em đủ no lòng
Đêm nay lạnh, em sẽ về đâu nhỉ ?
Em mấy tuổi mất vòng tay mẹ
Gót chân non từng trôi giạt nơi đâu ?
Đã bao lần co quắp giữa đêm thâu
Em ao ước một lời ru vỗ !
Đã bao lần trời khuya nổi gió
Em thì thầm lên tiếng gọi “Mẹ ơi !”
Dòng sông nào không xuôi về biển
Con tim nào không dào dạt yêu thương ?
Sao em đành côi cút lang thang
Sớm hố rác, tối gầm cầu vơ vất ?
Ta nhìn em nghe lòng mình quặn thắt
Thân tội tù đã gãy cánh chim bay
Đứng giữa đời thành sỏi đá dại ngây
Tim vẫn đập mà tay cùm chân xích !
Tháng Tư nào nắng trưa hè vụt tắt
Tháng Tư nào dài dặc một đêm đen
Tháng Tư nào nghe máu ứa trong tim
Tháng Tư nào thành niềm đau muôn thuở !
Tháng Tư nào tuổi thơ em vụn vỡ
Tháng Tư nào tình ruột thịt lìa tan
Tháng Tư nào đất nước đổi thay tên !
Bởi vì đâu, làm sao em hiểu nổi ?
Bởi vì đâu đời biến thành ngục tối
Ta thành tù vì đau xót quê hương ?
Bởi vì đâu người khắc khoải khóc than
Những giấc mộng lành thành lá khô tơi tả ?
Bởi vì đâu chim từng bầy mất tổ
Những cánh mềm run rẩy kiếp bay hoang ?
Bởi vì đâu em ngơ ngác bên đường
Bởi vì đâu biển xanh đầy nước mắt ?
Bởi vì đâu tấc gang mà ngăn cách
Đối mặt nhau không được nói nên lời ?
Ta thân tù, em bới rác cầm hơi
Bởi vì đâu, bao giờ em mới rõ ?
Bé thơ ơi, sao em còn đứng đó
Còn nhìn ta bằng ánh mắt buồn đau ?
Nỗi lòng ta, em hiểu được gì đâu
Đời tàn ác mà em con chim nhỏ !
Mai mốt này chắc mình không gặp nữa
Đường tội tù đâu hẹn gót chân hoang !
Em sẽ đi như một mảnh lá vàng
Bay theo gió về nẻo đời vô định.
Ta còn đây, đứng giữa vòng gông xích
Trái tim buồn in mãi dấu đời em !
Rồi từng đêm thao thức từng đêm
Em sẽ về đâu ?
Hỡi con chim nhỏ !
Em sẽ về đâu ?
Đường dài mưa gió !
Em sẽ về đâu ?
Con chim non đau khổ của ta ơi !
K3 – 1981
11 –
Tháng Tám mười năm rồi đó nhỉ
Mười năm tháng Tám vẫn cỏ cây
Mười năm một nỗi đau hoang phế
Mười năm uất nghẹn khóc tháng ngày.
Tháng Tám mười năm đời hốc núi
Mười năm cát bụi phủ đầy tay
Mười năm thương nhớ phai màu tóc
Mười năm khắc khoải đếm hao gầy.
Tháng Tám mười năm không tên gọi
Mười năm tháng Tám vẫn mây bay
Mười năm làm kiếp chim khép cánh
Chưa quên trời rộng buổi cuồng say.
Tháng Tám mười năm quên tiếng nói
Nỗi lòng chất ngất gửi theo mây
Người ngàn xưa gửi hồn năm cũ
Xin gửi ngàn sau trái tim này...
Tháng Tám mười năm còn tháng Tám
Quê ta còn tháng Tám của ta
Tháng Tám hoa vàng hương cúc mới
Thương đời như giữa tuổi năm, ba.
Tháng Tám mười năm còn ta nhỉ
Trời xanh thăm thẳm vẫn bao la
Mười năm mây trắng còn hò hẹn
Ta vẫn là ta, ta của ta !…
Z.30A – 1985
12 –
Khúc ca mừng đêm thánh
Sao bỗng ngưng dở dang?
Khúc ca mừng đêm thánh
Sao nao nao giọng buồn?
Chờ tin vui Giáng Thế
Lắng nghe chuông giáo đường
Sương rừng khuya buốt lạnh
Tiếng kẻng tù chợt vang.
Dọn mình đón đêm thánh
Sao chưa nguôi oán hờn ?
Dọn mình đón đêm thánh
Người sao còn bi thương ?
Hồn ngập tràn dĩ vãng
Đếm mãi buồn cô đơn
Tựa lưng bờ cửa sắt
Đêm thánh không giáo đường.
Nhớ ngàn xưa Giáng Thế
Thay đời gánh tai ương
Nhớ ngàn xưa Giáng Thế
Mở lối đời yêu thương.
Con tim mù đưa dắt
Rừng hoang đầy thú hoang
Lối xưa mờ dấu vết
Đường vẫn dài thê lương.
Làm tù trong đêm thánh
Nhắc thầm chuyện ngàn năm
Tiếng chim rừng khắc khoải
Đau nỗi đời mang gông…
Mười năm dài ngục tối
Chuông giáo đường lặng câm
Đêm thánh đầy thương tích
Đêm thánh buồn rưng rưng…
Z.30A – 1985
13 –
Sương lạnh tàn đông năm lại hết
Tháng ngày như cánh lá vàng bay
Ngồi đếm thời gian trong cõi chết
Đốt mãi đời mình bằng đắng cay.
Đốt mãi đời mình bằng câm nín
Đốt mãi đời mình trên ngón tay
Mới đó đã vương sầu tóc trắng
Nửa đời hư ảo một bóng mây.
Khói thuốc bay hoài về dĩ vãng
Đêm dài mà giấc ngủ chẳng say
Bao lần tự nhủ quên thương nhớ
Sao vẫn rưng rưng trái tim này ?
Vẫn giữa đêm đen tìm nắng ấm
Ngàn trùng theo mãi dấu chim bay.
Sương lạnh tàn đông ngồi ngắm bóng
Đắng cay, cay đắng lại đắng cay.
Từng phút hao mòn thân xác mỏi
Ngày qua thoáng chốc lại qua ngày
Mười năm gió thoảng không lưu dấu
Giữa đời ngơ ngác tuổi dại ngây...
Sương lạnh thấm sâu từng kẽ tóc
Mênh mông biển nhớ sóng dâng đầy
Hồn trôi theo khói về vô định
Đời còn cháy đỏ mãi trên tay !
Z.30A – 1985
16 –
Mười năm một giấc ngủ trưa
Ngàn năm bụi cũng phủ mờ hư không
Sao còn mong nhớ, nhớ mong
Chắt chiu mãi một tấc lòng thiết tha ?
Rừng hoang vẳng tiếng chim khuya
Điệu buồn thấm lạnh đêm tù mênh mông.
Nhớ ai, ai nhớ ai cùng
Mong ai, ai có một lòng như ai ?
Nỗi đời xuôi ngược ngược xuôi
Mưa mù năm tháng, cuối trời gió bay.
Hỏi ai, ai biết ai hay
Ngàn năm một thoáng phút giây trông chờ ?
Núi đau nỗi đứng trơ vơ
Sông buồn trôi mãi bến bờ lặng câm.
Lửa hờn cháy đỏ tháng năm
Con tim cạn máu vết hằn còn tươi !
Nước non xé nát canh dài
Đêm sâu nhắc mãi những lời không tên !
Z.30A – 1985
17 –
Một thoáng tình xưa trong khóe mắt
Mây giữa lưng trời bỗng lửng lơ
Mây bay theo gió vào phiêu lãng
Lá vàng sao mãi kiếp bơ vơ ?
Nước xuôi nẻo ấy về đâu nhỉ
Nhớ thương mấy độ vẫn mong chờ !
Bờ cao đau đáu nhìn con nước
Còn nhớ hay không những hẹn hò ?
Tay muốn trao tay mà xa thẳm
Nước mãi theo dòng chẳng nghỉ chân
Ngày cũ còn lại gì, em nhỉ ?
Cúi đầu lặng lẽ bước phân vân...
Sương chiều thêm lạnh trời lên gió
Nhớ thương còn lại nhớ thương thôi
Nhà ai bếp lửa chiều nay đỏ
Một thoáng xa xưa thoáng ngậm ngùi !…
Sài Gòn 1989
18 –
Thân vùi đáy mộ chưa nguôi hận
Sôi réo ngàn năm tiếng lửa hờn !
Đêm đêm trở giấc trong lòng đất
Vẫn thấy lưng trời lóe ánh gươm !
Sài Gòn 1989




