Tóm Lược Các Chế Độ Chánh Trị Mang Tính “Xã Hội” và Sự Kiện “Xã Hội Chủ Nghĩa” Tại Hoa Kỳ Gần Đây

 Nguyễn Bá Lộc

Cao học Kinh tế Tài chánh, Học viện Quốc gia Hành chánh VNCH (1967)

Hậu đại học Queenland University, Úc Đại Lợi (1971-1972)

Cựu Giám đốc, Bộ Kinh tế. Cựu Giảng viên Phân khoa Luật & Xã hội, Đại học Cần Thơ.

__________________________________________________________________________________

Các Quốc Gia Bắc Âu theo chế độ Xã Hội Dân Chủ (Social Democracy): Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan, Đan Mạch và Iceland

Dẫn Nhập

Tình trạng chánh trị, kinh tế, xã hội của nhiều quốc gia có nhiều thay đổi qua thời gian và không gian. Hậu quả của những biến thể to lớn đem tới hậu quả hoặc tốt hơn, hoặc đôi khi là tai họa cho đất nước.

Các chế độ chánh trị phần lớn dựa trên mô hình kinh tế và chánh sách xã hội, với những mức độ can thiệp của Chánh quyền.

Lý thuyết và chế độ mang “tính chất xã hội” có nhiều mức độ khác nhau từ thái cực chế độ Xã hội chủ nghĩa của chủ nghĩa Cộng sản, là một chế độ chuyên chính, tới thái cực kia là mô hình kinh tế tự do hoàn toàn của chế độ Tư bản, với chủ trương Chánh quyền không can thiệp vào lãnh vực kinh tế. Giữa hai thái cực đó có nhiều loại chế độ mang tính xã hội. Trong đó, nhóm quốc gia mang tính “xã hội” trung dung, đã đạt nhiều thành công về phát triển kinh tế và về bảo đảm công bằng xã hội.

Tuy nhiên, thực tế chánh trị cho thấy cũng có không ít quốc gia gặp nhiều khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Đôi khi là tai họa, hoặc do sự tranh giành của các đảng phái chánh trị, hoặc do ảnh hưởng của một nhóm người có thế lực, hoặc vì chính người dân thờ ơ với vận mạng đất nước. Tình trạng và sự kiện nầy gần đây xảy ra tại Hoa kỳ. Hiện tượng xảy ra do một số chánh trị gia có khuynh hướng “xã hội”, đưa ra vài chương trình tranh đấu cho người nghèo.

Qua lịch sử chánh trị thế giới, cái đặc tính “xã hội” trong mô thức chánh trị có nhiều mức độ khác nhau. Sự khác biệt chánh yếu là vai trò và mức độ can thiệp của chánh quyền (government intervention) vào các lãnh vực kinh tế xã hội qua chánh sách tái phân phối lợi tức quốc gia.  Một trong các chế độ trung hòa mang tính “xã hội” đã thành công to lớn, sâu rộng và lâu dài nhứt là chế độ Xã hội Dân chủ (XHDC, Social Democracy). Căn bản của chế độ XHDC là sự dung hòa giữa tiến bộ kinh tế và sự bảo đảm công bằng xã hội.   

Chủ thuyết và chế độ Xã hội Dân chủ là một biểu trưng rõ nét và gần gũi với chế độ Kinh tế Tự do (Free Economy) và Nhà nước phúc lợi (Welfare State). Mô hình nầy đã thành công nhiều nhứt tại các quốc gia Bắc Âu từ thập niên 1950. Sau đó được nhiều quốc gia khác áp dụng.

Để hiểu thêm phần nào về các chế độ mang tính “xã hội”, chúng tôi xin tóm tắt một số vấn đề sau: Chế độ Xã hội Dân chủ. Các mô hình mang tính “xã hội” khác. Sự kiện chánh trị mang tính “xã hội” tại Hoa kỳ. Vài suy nghĩ về “mô hình dung hợp” trong tương lai.

Hình Thành và Thành Công Của Chế Độ Xã Hội Dân Chủ

Chế độ Tư bản cổ điển đã đem lại kết quả tốt về mặt kinh tế. Nhưng vì với mô hình kinh tế tự do hoàn toàn, “Laissez faire”, các nhà Tư bản không bị những hạn chế trong kinh doanh, họ có quá nhiều tự do và đưa tới nhiều quyền lợi. Trong khi đó, khối đông đảo có đóng góp cho sự phát triển là công nhân, và những người tiêu thụ nghèo thì chịu nhiều thiệt thòi. Với chủ thuyết XHDC, chủ trương phải cần có chánh quyền can thiệp vào để giải quyết trở lực xã hội đó, điều hợp cho cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh cho mọi người dân. Chủ trương và sách lược mới đó thực hiện dưới mô hình “Nhà nước phúc lợi” (Welfare State). Thành quả của tiến bộ kinh tế cần phải được chia sẻ công bằng cho mọi người dân. Con người phải được coi trọng hơn của cải vật chất. Phải chăm sóc người dân, nhứt là những người yếu thế. Điều nầy hợp lý, nhưng nếu quá nặng lo cho xã hội một cách thiếu khôn ngoan, thiếu tính toán, thì kinh tế không phát triển được. Chừng đó cả nước sẽ gặp khó khăn, chẳng những về kinh tế mà cả xã hội. Có thể hiểu rộng ra, XHDC là chủ thuyết kinh tế thị trường mang tính chất xã hội trong một Xã hội Dân chủ (Social market Economy and Democratic Society). Nó hoàn toàn khác “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” (Market Oriented Socialist Economy) của Việt Nam Cộng sản.

Nói tóm lại “tính xã hội” trong mô hình chánh trị có mức độ và sự can thiệp của chánh quyền vào hạn chế sự tự do quá quá nhiều của chế độ Tư bản với mô hình “Xã hội Dân chủ”. Chế độ đó có cấu trúc và có thành quả tóm tắt như sau:

Cấu trúc Chế độ Xã hội Dân chủ (Social Democracy)

Về phương diện chánh trị:

(i) Chế độ Dân chủ, và đa đảng

(ii) Tự do cá nhân về bầu cử, tôn giáo, truyền thông.

(iii) Xã hội công bằng và đoàn kết toàn dân

(iv) Tổ chức quần chúng độc lập, như Công đoàn, Hiệp hội nghề nghiệp.

(v) Nhà nước có vai trò can thiệp qua các chế định chế và pháp quyền, nhằm dung hòa quyền lợi của các thành phần xã hội, và phát triển kinh tế.

(v) Quyền tư hữu được công nhận và bảo đảm.

(vi) Bộ máy Chánh quyền minh bạch, đạo đức.

(vii) Tôn trọng luật lệ, công ước quốc tế, và hợp tác quốc tế

Về phương diện kinh tế:

(i) Mô hình và sách lược kinh tế theo nguyên tắc Kinh tế tự do/ hay kinh tế Tư bản, được hạn chế bởi lợi ích công cộng và an sinh xã hội.

(ii) Cơ cấu kinh tế, tư doanh là chánh yếu. Kinh tế Nhà nước giới hạn trong lãnh vực lợi ích công cộng. Rất hạn chế xí nghiệp quốc doanh.

(iii) Chánh phủ đầu tư vào Giáo dục và Y tế miễn phí, phát triển lực lượng lao động, bảo vệ môi trường.

(iv) Tài chánh và công chi. Chánh phủ tăng thuế xuất và sử dụng biện pháp “Tiên tài trợ” các dự án dẫn đạo cho phát triển kinh tế xã hội.

(v) Chánh quyền qui định lương tối thiểu và bảo hiểm thất nghiệp cho công nhân.

(vi) Luật pháp qui định khuyến khích sự hợp tác giữa chủ nhân và công nhân viên chức, như công ty bán cổ phiếu, hay trợ cấp hưu trí cho công nhân viên.

(vii) Chánh quyền thành lập Quỹ điều hòa phát triển kinh tế, trợ cấp xuất cảng, hỗ trợ tiểu thương, hỗ trợ nông tín.

(viii) Thành lập các Ủy ban/Hội đồng kinh tế xã hội gồm Chánh quyền và Tổ chức quần chúng.

Tóm lại mô hình chế độ Xã hội Dân chủ dựa trên căn bản Dân chủ chánh trị, Tự do kinh tế và Phúc lợi xã hội. Những người theo chế độ XHDC tin tưởng rằng người dân chỉ có được công bằng và tự do thực sự khi nào họ có được quyền chánh trị (political rights) và quyền kinh tế (economic rights).

Chế độ chánh trị kết hợp hài hòa giữa tính “Xã hội” của chế độ “Nhà nước phúc lợi” (Welfare State) với tính “Tự do” của chế độ Dân chủ và “Kinh tế thị trường”. Đó là Chế độ Xã hội Dân chủ (XHDC).

Mô hình chế độ Xã hội Dân chủ đã được áp dụng tại nhiều quốc gia và rất thành công. Khởi đầu là tại các quốc gia Bắc Âu, gồm Thụy điển, Đan Mạch, Na Uy và Phần lan, từ thập niên 50. Sự thành công tốt đẹp ở đó làm cho một số quốc gia khác noi theo. Trong đó có 4 “Hổ kinh tế Á châu”, đã vươn lên rất mạnh từ thập niên 60 mãi cho tới nay. Một phần nào hình mẫu XHDC đó được thực thi ở Tây Âu và Hoa kỳ.

Tóm tắt chế độ XHDC tại các quốc gia:

Tại các nước Bắc Âu:

Chế độ XHDC tại các quốc gia Bắc Âu được thành hình bởi sự kiện chánh trị và kinh tế quốc nội và từ biến cố quốc tế. Trong nước thì kỹ nghệ được phát triển mạnh do các nhà tư bản làm chủ. Lúc đó nông nghiệp kém phát triển. Thành phần trẻ ở nông thôn thất nghiệp nhiều phải xin vào làm việc ở các xí nghiệp, thì bị trả lương thấp và làm việc quá sức. Và có nhiều bất công xã hội khác. Các đảng XHDC đứng lên tranh đấu cho công nhân và được thành công trong các cuộc bầu cử. Một số người gọi đó là chủ nghĩa “Xã hội Tự do” (Social Liberalism).

Từ 1950-1975: Trong giai đoạn nầy lý thuyết kinh tế của trường phái Keynesian được áp dụng. Chánh quyền bỏ tiền ra tài trợ trước cho nhiều dự án đầu tư. Từ đó làm tăng công việc làm, kinh tế phát triển, lương tăng, thất nghiệp giảm.

Giai đoạn 1975-thập niên 1980. Về kinh tế, các nước Bắc Âu có sự phát triển cao hơn, thị trường công việc rất tốt (full employment), kinh tế bền vững, mậu dịch quốc tế gia tăng.

Về mặt xã hội, đời sống công nhân bảo đảm. Có qui định lương tối thiểu. Cung cầu lao động theo nguyên tắc thị trường tự do. Người lao động không cảm thấy bị bóc lột bởi chủ nhân. Công nhân được đào tạo ngành nghề miễn phí. Tuy nhiên có gánh nặng về bộ máy công quyền quá to, số viên chức lãnh vực công chiếm tới 30% tổng số lực lượng lao động.

Tại 4 quốc gia “Hổ kinh tế Á châu”:

Các quốc gia Hổ kinh tế Á châu, gồm Singapore, Hong kong, Đài Loan, Nam Hàn, bắt đầu phát triển từ thập niên 1960, 10 năm sau Bắc Âu. Các nước nầy cũng khởi đi từ sự nghèo khó, thu nhập đầu người (per capita) lúc đó chỉ từ $600 – $900 mỹ kim/người. Tình trạng kinh tế xã hội nhiều khó khăn và đầy dẫy bất công, do hậu quả của chiến tranh, thực dân, và phong kiến.

Các quốc gia Á châu nầy căn bản dựa theo chế độ Xã hội Dân chủ kiểu Bắc Âu.  Chánh quyền can thiệp khá nhiều để bảo đảm công bằng xã hội trong hai thập niên đầu. Khi hội nhập kinh tế toàn cầu mạnh mẽ, các quốc gia này nghiên qua chủ thuyết Neo-Liberalism, có tự do kinh tế nhiều hơn.

Tóm tắt thành công của các quốc gia có chế độ Xã hội Dân chủ  

Tại các nước Bắc Âu

Các quốc gia Bắc Âu từ cuối thế kỷ 20 có “nền kinh tế cạnh tranh nhất trên thế giới”, theo nhận xét của cơ quan nghiên cứu. Thụy Điển có suất số phát triển kinh tế khá cao, 6.8% năm 2004, và 7% năm 2007, các nước khác trong vùng nầy cũng đạt mức độ tương tự, suốt trong 60 năm. Trong khoảng 20 năm gần đây có suy giảm, nhưng vẫn còn trong nhóm nước có đời sống cao, về vật chất lẫn tinh thần.

Về thu nhập đầu người (per capita), các nước Bắc Âu nằm trong 10 quốc gia có thu nhập đầu người cao nhứt thế giới. Theo US News & World Report tháng 9/2024, thì Đan Mạch với $76.688, Thụy Điển: $70.207, Na Uy: $104.460, Phần Lan: $65.061. Các quốc gia này chẳng những đạt mức phát triển rất cao mà còn bền vững từ hơn 50 năm qua. Dân chúng ở đấy có cuộc sống an vui, hạnh phúc.

Nhưng vì có những khó khăn nội bộ, thế lực chánh trị các đảng chánh trị XHDC ở Bắc Âu yếu đi. Ví dụ tại Thụy Điển, thuế càng ngày càng tăng cho ngân sách phúc lợi xã hội, làm cho tăng trưởng kinh tế giảm đi. Một số công đoàn có khuynh hướng gia tăng áp lực, đòi hỏi nhiều ở chủ nhân, làm kinh doanh có khó khăn.

Vì sự can thiệp quá sâu vào hoạt động xã hội, nhân viên nhà nước ở Bắc Âu chiếm tới 30% tổng số lực lượng lao động. Chi tiêu trong khu vực nhà nước rất cao, chiếm trung bình 45% tổng sản lượng quốc gia.

Vì một số khó khăn, các đảng phái XHDC yếu thế và một số đảng chuyển qua lập trường và chủ thuyết “Neo-Classicalism” hay “Neo-Liberalism”. Theo đường hướng này chánh quyền giảm bớt chương trình an sinh xã hội, mà chú trọng nhiều hơn sự tăng trưởng kinh tế.

Tại các nước “Hổ kinh tế Á châu”

Từ thập niên 60 đến nay, các quốc gia “Hổ kinh tế Á châu” đạt được thành công vượt bực. Đó là mẫu mực mơ ước của nhiều nước đang phát triển.

Thu nhập đầu người (Income per capita, US$), năm 2024 tại Singapore là $82.000, Nam Hàn $56.000, Đài loan $52.000, Hong kong $48.000. Tỷ suất phát triển trong 30 năm đầu đạt trung bình 10%, có lúc lên 12%. Các quốc gia Á châu này có vị thế khá quan trọng trong kinh tế quốc tế về tài chánh cũng như chuỗi cung ứng các  hàng hóa chánh yếu.

Chỉ sau 30 năm, các quốc gia này trở thành nước phát triển (developped countries) giàu mạnh. Nền kinh tế phát triển vừa có số lượng, vừa có chất lượng. Dân chúng có cuộc sống cao, hài hòa và lạc phúc, có được tin tưởng trên thế giới.

Mô hình kinh tế ở đó vẫn là Kinh tế Thị trường. Có sự can thiệp của Chánh quyền để dung hòa quyền lợi của mọi tầng lớp dân chúng. Chánh quyền có những hỗ trợ kinh tế qua sự kết hợp giữa Nhà nước và nhân dân trong những vấn đề lớn của quốc gia. Chánh quyền tích cực hỗ trợ nhiều chương trình trợ giúp giáo dục, y tế, nhà ở cho người nghèo, và công nhân. Sự can thiệp đó căn bản từ nhu cầu của dân chúng và của đất nước, chớ không phải từ nguyên tắc cứng rắn giáo điều, độc tài của chế độ Cộng sản hay Xã hội chủ nghĩa từ gốc Cộng sản. Theo Report 2022 của cơ quan Lao động quốc tế (International Labor Organization) gọi mô hình ở các Hổ kinh tế là “Social and solidarity Economy”.

Nói tóm lại, như nhận xét của cơ quan UN World Happiness Report, thì “các quốc gia có hạnh phúc nhiều nhất là tập trung vào các nước có chế độ Xã hội Dân chủ”.

Các Dạng Thức Chế Độ Mang Tính “Xã Hội” Khác Nhau

Như trình bày ở phần trên chế độ Xã hội Dân chủ đã được áp dụng tại nhiều quốc gia trong gần một thế kỷ qua. So với nhiều chế độ khác, XHDC đã đem lại nhiều lạc phúc cho đa số người dân. Chế độ XHDC là sự dung hòa tốt cho sự phát triển kinh tế và công bằng xã hội.

Tuy nhiên, bên ngoài chế độ Xã hội Dân chủ như trình bày ở trên, trên thế giới có một số chế độ mang tính chất “xã hội” nhưng khác với XHDC. Và được ghi nhận dưới đây:

Chế độ “Tân Tự do” là chế độ từ Xã hội Dân chủ cải đổi

Từ khoảng thập niên 1980, Chế độ XHDC suy yếu tại các quốc gia Bắc Âu. Phát xuất từ hai nguyên do chánh là biến đổi kinh tế xã hội trong nước và từ phong trào Toàn cầu hóa (Globalization). Trong nước thì kinh tế suy yếu, vì có quá nhiều cuộc tranh đấu đòi hỏi nhiều từ phía công nhân. Thuế má càng ngày càng phải tăng lên. Một số công nhân đã thành giai cấp trung lưu do họ có đầu tư trong các công ty họ làm việc. Các đảng phái chánh trị thì tranh đấu với nhau càng ngày càng mạnh mẽ hơn. Về quốc tế, xuất cảng giảm, vì phong trào Toàn cầu hóa càng cạnh tranh quyết liệt, các xí nghiệp quốc tế cần sự sự yểm trợ nhiều hơn từ Chánh quyền. Nhất là sau nầy, những khủng kinh tế quốc tế tác động xấu cho nhiều công ty đa quốc gia.

Từ tình trạng đó, các quốc gia theo chế độ Xã hội Dân chủ chuyển đổi sách lược qua một phần bảo thủ, đó là chủ thuyết và chế độ “Tân Tự do” (Neo-Liberalism). Theo nguyên tắc, chế độ Tân tự do chủ trương quay lại sự hỗ trợ nhiều hơn cho chủ nhân các xí nghiệp, đồng thời giảm bớt đầu tư công cho các chương trình phúc lợi xã hội.

Nguyên tắc căn bản của chế độ XHDC là Dân chủ chánh trị, Tự do kinh tế, và có sự can thiệp của Chánh quyền vẫn không thay đổi, chỉ giảm mức độ can thiệp của Nhà nước. Trong vài thập niên gần đây mô thức “Tân tự do” được mở rộng tại nhiều quốc gia, từ Âu sang Á.   

Chế độ Dân chủ Xã hội (DCXH, Democratic Socialism)

Các điểm giống và khác giữa chế độ Xã Hội Dân Chủ (XHDC) và Dân Chủ Xã Hội (DCXH)

Điểm giống: Hai chế độ này căn bản xây dựng trên chủ thuyết Tư bản tức kinh tế tự do, trong chế độ Dân chủ thực sự, có chương trình an sinh xã hội, và có sự can thiệp của Chánh quyền.

Điểm khác: chế độ DCXH muốn chánh quyền can thiệp mức độ mạnh hơn và toàn diện hơn. Về thuế người giàu cao hơn, chánh quyền cung cấp dịch vụ công nhiều hơn, nhiều miễn phí về giáo dục, y tế, nhà ở, nhà trẻ, nhà dưỡng lão, trợ cấp thất nghiệp. Trên phương diện kinh tế, chế độ DCXH có kế hoạch sâu hơn, như thành lập xí nghiệp quốc doanh, đầu tư vào điện nước, hạ tầng nhiều hơn. Tóm lại chế độ DCXH huy động tài chánh công ở mức độ lớn để chi tiêu nhiều hơn về phúc lợi xã hội và tiện ích công cộng, mà chế độ này cho rằng như vậy thì công bằng đầy đủ và toàn diện cho người nghèo. Chế độ DCXH đặt nặng vấn đề cách biệt giàu nghèo trong xã hội, đó là một thực tế và cũng là một trong các tiêu đề tranh đấu chánh trị của một số chánh khách.

Cách tổng quát, có ba điều khác biệt giữa chế độ XHDC và DCXH:

Quan điểm về Tư bản chủ nghĩa

XHDC tin rằng chế độ Tư bản có thể cải đổi cho tốt hơn qua luật lệ và định chế, và mạng lưới an toàn xã hội.

DCXH cho rằng chế độ Tư bản tạo ra bất công và cần phải thay thế bằng một chế độ chánh trị kinh tế có căn bản dân chủ hơn và có sự hợp tác nhiều hơn.

Về Hệ thống kinh tế:

XHDC: Ủng hộ nền kinh tế thị trường với tư doanh. Chánh quyền chỉ cung cấp nhiều dịch vụ công, không nên sở hữu cơ sở sản xuất.

DCXH: Những kỹ nghệ chánh yếu phải thuộc sở hữu công hay hợp tác công tư và có sự kiểm soát của công nhân.

Về mục tiêu chánh:

XHDC: Chủ trương “Đổi mới” (Reform) hệ thống kinh tế xã hội cho tốt hơn

DCXH: Chủ trương “Cải đổi” (Transform) hệ thống hiện tại và trao cho người dân bình thường nhiều quyền hơn về cuộc sống và sinh hoạt kinh tế.

Thực tế, có một số người hiểu lầm hoặc không rõ về sự khác biệt của hai chế độ Xã hội Dân chủ và Dân chủ Xã hội. Ngay cả tại Hoa kỳ, qua lập trường chánh trị của Thượng nghị sĩ Bernie Sander từ lâu nay, và gần đây qua Tân Thị trưởng Mamdani của New York và một số dân cử ở Thị xã khác, đưa tới sự tranh cãi. Có truyền thông gọi những người có chủ trương đó là “Socialist” hay “Socialism”. Có người nói rộng hơn về vấn đề rất cũ là “Communism” hay “Capitalism”. Dù thực tế, đó chưa là vấn đề lớn của Hoa kỳ. Nhưng qua sự kiện này, cử tri Hoa kỳ cần lưu tâm hiều hơn về tính chính đáng và thực chất của sự vững mạnh của Hoa kỳ.

Chế độ Xã hội chủ nghĩa trong ý thức hệ Cộng sản (Socialism/Communism)

Từ khi chế độ Cộng sản (CS) của Liên bang Sô viết và các nước Đông Âu sụp đổ (1991), vài nước CS còn lại như Trung quốc (TQ) và Việt Nam (VN). Hai nước nầy đã tự biến cải từ chế độ CS thành chế độ “Xã hội chủ nghĩa (XHCN) biến thể”. Có nhiều người đã hiểu rõ chế độ CS và XHCN ở VN và TQ, nhất là người Việt. Ở đây chỉ nói một chút là chế độ XHCN kiểu nầy vẫn là giai đoạn đầu của chế độ CS. Vì các điểm căn bản hoàn toàn không thay đổi. Đó là chế độ độc tài độc đảng, các cơ quan nhà nước đều từ đảng chọn ra, không công lý và tự do. Có các chế độ phúc lợi của nhà nước chỉ có trên hình thức, thực tế như phần lớn dân chúng phải đóng tiền, chẳng hạn như về y tế, giáo dục, nhà ở, chuyên chở công cộng. Trong khi đó đảng nắm hầu hết mọi tài sản và tài nguyên quốc gia. Chỉ có phần kinh tế tư nhân trong cơ chế bán thị trường, nhưng rất giới hạn và bất công. VNCS đang thực hiện kế hoạch “Đổi mới” lần hai, nhưng căn bản cơ cấu và vận hành kinh tế vẫn như cũ.  Kinh tế có tiến bộ, nhưng bất công kinh tế xã hội càng ngày càng lớn hơn. Đó không phải là sự dung hòa giữa phát triển kinh tế và an sinh xã hội cho toàn dân.

Sự Kiện Mang Tính “Xã Hội Chủ Nghĩa” Tại Hoa Kỳ Gần Đây

Lá cờ của Tổ chức Dân chủ Xã hội Hoa kỳ (Democratic Socialist of America, DSA) trong một cuộc biểu tình tại Austin, TX, 2020. Nguồn ảnh: https://www.flickr.com/photos/188360810@N02/49985139338/

Như chúng ta biết trong độ năm nay, có một sự kiện chánh trị mang tính “xã hội” xã hội chủ nghĩa xuất hiện trên chánh trường và trên truyền thông Hoa kỳ trong mấy tháng gần đây.

Dù sự kiện này không đủ sức gây ra sự thay đổi có ý nghĩa về thể chế và sức mạnh chánh trị nào cho Hoa kỳ, nhưng dù sao cũng có ảnh hưởng phần nào tới cử tri Hoa kỳ.

Tình hình đó có thể tóm tắt:

(i) Sự đắc cử của một số viên chức chủ trương thực hiện chánh sách về “xã hội”. Trong đó có thể kể Thị trưởng New York, Mamdani, vài Thị trưởng và Nghị viên của một số thị xã khác, với tỷ lệ thắng cử cao từ 50%. Các ứng viên này mang danh nghĩa đảng viên dân chủ cho nên họ được sự ủng hộ từ một số Dân biểu và cử tri Dân chủ. Có người cho rằng phe nhóm “xã hội chủ nghĩa” có thế chiếm phần quan trọng trong đảng Dân chủ trong tương lai.

(ii) Các viên chức thắng cử đã được sự ủng hộ mạnh mẽ của Nghị sĩ Bernie Sander và Dân biểu Alexandra Ocasio Cortez, của đảng Dân chủ, cả hai là thành viên tích cực của Tổ chức Dân chủ Xã hội Hoa kỳ (Democratic Socialist of America, DSA). Tổ chức DSA được thành lập từ thập niên 1970, với hội viên khoảng 70.000 người. Nhiều văn phòng đại diện ở khắp Hoa kỳ. DSA là một Tổ chức (Organization), không phải là đảng chánh trị (Political Party).  Mục tiêu tranh đấu là Hoa kỳ cần có nhiều chương trình xã hội nhiều hơn cho người nghèo.

(iii) Các chánh trị gia này ứng cử với danh nghĩa đảng viên Dân chủ. Các thành viên nầy tôn trọng bầu cử tự do của chế độ Dân chủ truyền thống. Họ là những người cực tả của dân chủ theo nhận xét của một số truyền thông Hoa kỳ. Có ý kiến cho rằng nhóm “Xã hội” nầy đang lớn dần và có thể họ sẽ nắm phần quan trọng của đảng Dân chủ hiện nay.

(iv) Chủ trương cần có nhiều chương xã hội quần chúng, như nhà trẻ miễn phí, mở rộng trợ cấp tiền thuê nhà, tăng thuế địa ốc, giáo dục miễn phí, trợ cấp thất nghiệp, tăng thuế người giàu…là những mục tiêu của nhóm “xã hội” được nhiều “cử tri nghèo khó” mong muốn, nhất là trong những giai đoạn khủng hoảng kinh tế. Thoáng nhìn, đó là sách lược của mô hình chế độ Dân chủ xã hội (Democratic Socialism) nói ở trên.

(v) Đa số cử tri bỏ phiếu cho thành viên DCXH là những người trẻ và đang tăng dần. Đặc biệt có thêm nhiều người di dân trong đó có nhiều cử tri, ứng cử viên gốc Hồi giáo.

(vi) Thái độ và nhận xét chánh trị của một số không nhỏ cử tri Hoa kỳ chỉ đặt quyền lợi cá nhân, hoặc không nhìn xa hơn. Hoặc một số ỷ lại có nhà nước lo. Một số cử tri bị lợi dụng. Dù thế nào thì kết quả phải được công nhận, vì tới giờ đó là bầu cử tự do.

(vii) Mấy tháng qua, có nhiều nhà bình luận chánh trị và truyền thông thuộc cánh bảo thủ nêu lên nhiều về sự kiện chánh trị gia tăng mang tính “xã hội”. Điều đó có thể xem như một báo động. Vì từ trước tới nay, hơn 50 thập niên, tổ chức Dân chủ Xã hội Mỹ hay đảng Cộng sản Mỹ không có ảnh hưởng đáng kể gì với dân chúng và đất nước Hoa kỳ.

(viii) Đảng Cộng Hòa và nhiều thành phần dân chúng chống chế độ Xã hội chủ nghĩa kiểu CS và chủ nghĩa CS. TT Trump đã phát biểu là chế độ Cộng sản là tai họa và không thể tồn tại ở Hoa kỳ.

Tiến trình Tổ chức và hoạt động mang tính “XHCN” tại Hoa kỳ

Khi phong trào Cộng sản tràn lan đến nhiều quốc gia vào thập niên 1930, tại Hoa kỳ có một số chánh trị gia phối hợp với vài Tổ chức Công đoàn thành lập đảng Cộng sản. Mục tiêu chánh nêu lên là tranh đấu cho quyền lợi công nhân. Nhưng đảng CS Mỹ quá yếu, không tạo được thế lực chánh trị nào đáng kể từ đó đến nay. Nhưng nay với vài sự kiện mới, làm nhiều người có suy nghĩ, có phần lo lắng. Người ta sợ số cử tri của chuyển động mới bị dẫn dắt đi tới mạnh hơn tính “xã hội”, hoặc nắm đảng Dân chủ hiện nay. Điều nầy khó, vì đảng Dân chủ có chủ trương trung dung và khá mạnh và khá lâu đời. Có thể nhóm “Xã hội chủ nghĩa” hiện nay sẽ lớn mạnh thêm và sẽ thành lập đảng “Xã hội” chẳng hạn.

Thực tế và kinh nghiệm của Hoa kỳ với 250 năm, những cột trụ Dân chủ, Tự do và Nhân quyền không thể bị lung lay. “America” DSA dù có khởi động lại, nhưng thực chất hãy còn quá yếu, mục tiêu sách lược tranh đấu không có gì mới.

Trong khi đó, những cố gắng của chủ nghĩa xã hội trên thế giới, không có yếu tố thuyết phục, nhứt là trên mặt ý thức hệ. Những quốc gia còn theo đuổi chế độ XHCN, chỉ vì quyền lợi tập thể đảng viên, chúng phải bám vào tổ chức đảng, vào tập thể đảng viên với nhau để tồn tại và để chiếm đoạt tài sản quốc gia.

Vì sao các Tổ chức mang “tính XHCN” tại Mỹ không thành công?

(i) Chế độ Dân chủ Tự do của Mỹ rất vững chắc. Từ cơ cấu tổ chức đất nước đến sinh hoạt chánh trị từ cấp quốc gia tới địa phương tương đối ổn định và vững vàng, dù có lúc phải đương đầu với chiến tranh, với khủng hoảng kinh tế, và ngày nay với sự phá hoại tấn công nhiều mặt từ Trung cộng, Nga và Iran. Nhóm “XHCN” không có thế lực đủ sức làm thay đổi cơ cấu và chánh sách hiện nay của Hoa kỳ.

(ii) Đại đa số người dân Mỹ tin tưởng ở chế độ, ở chánh quyền, tin tưởng các chánh sách đối nội và đối ngoại của Hoa kỳ. Và thực tế Hoa kỳ từ 250 năm qua đã là cường quốc số một, Hoa kỳ vẫn giữ được giá trị Tự do Dân chủ. Sự đảo ngược lại có thể nhiều rủi ro, nhiều thiệt hại cho đất nước và cho cả thế giới. Trong khi đó, nhóm chủ trương XHCN không đưa ra được quốc sách nào mới nhằm cho đất nước và nhân dân Hoa kỳ mạnh hơn và tốt đẹp hơn. Sự kiện hiện nay, có tiến triển hơn trước, nhưng vẫn chưa đủ mạnh để thuyết phục đa số dân Mỹ vốn khá thực tế, không ảo tưởng.

(iv) Hoa kỳ là nước Tư bản lớn, với nền kinh tế căn bản là “Thị trường tự do”, và trong quá khứ lâu dài Chánh quyền, dù đảng Cộng hòa hay Dân chủ, cũng đều đã đưa ra nhiều chương trình phúc lợi xã hội, và bảo vệ quyền lợi công nhân, không bằng các nước Bắc Âu, nhưng căn bản đã có và qua đúng nguyên tắc Nhà nước Pháp quyền. Những người nghèo, người có khó khăn đều nhận được các loại trợ giúp nào đó từ Chánh quyền. Điều này mang ý nghĩa và nội dung của chế độ Xã hội Dân chủ, loại có chủ thuyết “Tân tự do”.

(v) Với vị thế số một quốc tế, Hoa kỳ phải thật mạnh về kinh tế lẫn quân sự. Một chế độ phải dùng tiền thuế nhiều để thực hiện quá nhiều chương trình xã hội, thì khu vực kinh tế tư nhân sẽ yếu đi. Một bộ phận người dân ỷ lại vào trợ cấp chánh quyền mà  Chánh quyền càng nhúng tay vào thì hiệu năng và cơ hội mất mát tiền tài của dân càng nhiều.

(vi) Ý thức chánh trị của người dân rất quan trọng trong sự thành bại của quốc gia.

Chính mỗi cử tri nên tự xem lại trong mọi quyết định bầu cử. Đó là mong ước.

(vii) Tình trạng phức tạp hơn, vì Hoa kỳ luôn có nhiều nước thù địch trên nhiều mặt, từ nhiều nước, quan trọng nguy hiểm nhứt là từ Trung Cộng, Nga, Iran. Trong khoảng 20 năm gần đây, Hoa kỳ bị chống phá trong các phương diện chánh trị, kinh tế, an ninh nội địa, ngoại giao, di dân từ một số nước.

(viii) Cuối cùng, sự sai sót và khuyết điểm của một số cơ quan Nhà nước, của một số viên chức Chánh quyền các cấp, và cả một số dân cử, một cách vô tình hay cố ý tạo ra. Điều này làm giảm hay mất niềm tin của dân chúng.

Chính trường và xã hội Hoa kỳ sẽ ra sao trong tương lai qua sự kiện nầy?

Điều mà nhiều người lo nghĩ là nếu chủ trương “xã hội hóa” Hoa kỳ theo như diễn tiến gần đây mà chúng tôi tóm tắt có sức mạnh nào để tiến triển làm thay đổi chánh trị, kinh tế, xã hội, và văn hóa Hoa kỳ trong tương lai?

Sơ khởi, đa số người Mỹ chánh cống hay người Mỹ di dân, nhứt là người Mỹ có nguồn gốc tị nạn chánh trị, thì họ không tin nhóm “Xã hội chủ nghĩa” nói trên có thể làm thay đổi nước Mỹ. Nhưng nhóm này có thể gây một số rắc rối, một số tốn kém cho xã hội Hoa kỳ. Các lý do cho suy nghĩ này:

Quần chúng và cử tri: Tuyệt đại đa số lay chuyển từ bỏ dân chủ Tự do. Dù thành phần trẻ nay có “khuyng hướng xã hội” nhiều hơn. Nhưng có lẽ đó là cảm nhận nhất thời. Đó là vấn đề nhận thức chánh trị phải được hướng dẫn và giáo dục bằng nhiều cách.

Các đảng phái chánh trị: Hai đảng phái Cộng Hòa và Dân chủ nên đặt quyền lợi của quốc gia lên trên quyền lợi đảng và đảng viên. Cái tinh thần chánh trị của thế kỷ 20 trở về trước. Sau sự kiện “biến cải xã hội” vừa qua, hy vọng sinh hoạt chánh trị Hoa kỳ sẽ tốt trở lại. Dù sẽ có đảng dân chủ xã hội hay đảng Xã hội được chánh thức thành lập và hoạt động, thì có lẽ cũng không đủ mạnh .

Các Chánh quyền trung ương và địa phương: Các viên chức Chánh quyền cấp trên hay cấp dưới cần giữ đúng tinh thần trách nhiệm. Công bằng phục vụ mọi người dân. Mọi sửa đổi hay cải cách phải đúng nguyên tắc Nhà nước Pháp trị.

Bang giáo và chánh trị quốc tế: Hoa kỳ là một siêu cường có ảnh hưởng nhiều nhất về chánh trị, kinh tế, khoa học kỹ thuật, an ninh và văn hóa thế giới. Ngày nay trật tự thế giới bị xáo trộn. Nhất là sự cạnh tranh của Trung cộng, tình hình có nhiều khó khăn hơn thế kỷ trước. Chánh sách bang giao của Hoa kỳ vừa cứng vừa mềm. Nhất là đối với quốc gia bạn và khối quốc gia thứ ba.

Tóm lại, tương lai Hoa kỳ có khó khăn, nhưng căn bản Tự do, Dân chủ và Nhân quyền sẽ vẫn bền vững. Hoa kỳ sẽ được ổn định với một số cảnh giác và những điều chỉnh cần thiết trong tương lai.

Vài Suy Nghĩ Về Chế Độ Mang Tính “Xã Hội” Trong Tương Lai  

Sau khi tìm hiểu các chế độ chánh trị mang tính “xã hội” trên thế giới trong quá khứ. Liệu chúng ta có thể rút ra được những bài học hữu ích cho công cuộc xây dựng một chế độ tương đối tốt cho nhiều quốc gia?

Qua sự tìm hiểu sự thành công của các quốc gia có chế độ Xã hội Dân chủ đặc biệt tại Bắc Âu và tại các quốc gia “Hổ kinh tế Á châu”, chúng ta có một số bài học cho mô hình chánh trị, kinh tế, xã hội tương lai.

Các yếu tố cho thành công tại nhiều quốc gia:

(i) Có Chế độ Dân chủ, và Nền Kinh tế tự do

(ii) Có sự dung hòa giữa phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội

(iii) Chánh quyền nên can thiệp vào các lãnh vực kinh tế xã hội, nhưng một cách vừa phải, hợp tình hợp lý. Tới mức mà kinh tế vẫn phát triển được mà an sinh xã hội căn bản vẫn được thực thi. Điều quan trọng là tài sản quốc dân phải được xử dụng hữu hiệu và công minh.

(iv) Giáo dục được đặt tầm quan trọng nhất trong chánh sách quốc gia

(v) Coi trọng sự phát triển khoa học kỹ thuật

(vi) Bộ máy chánh quyền phải hữu hiệu và lương thiện. Đây là điều quan trọng

(vii) Có được sự ủng hộ và tin tưởng của dân chúng. Có được sự tận dụng về nhân lực và vật lực quốc gia cách hữu hiệu. Xây dựng đúng đắn các Hội đoàn dân sự, Công đoàn độc lập và truyền thông chân chính và độc lập.

(viii) Có sự dung hòa, tương nhượng và đoàn kết giữa các đảng phái chánh trị. Đảng phái đặt quyền lợi đất nước lên trên hết.

(ix) Cần có chánh sách tốt trong đối ngoại. Tạo được niềm tin quốc tế để gia tăng xuất cảng và đầu tư ngoại quốc. Tạo thế cân bằng giữa kinh tế đối nội và kinh tế đối ngoại, để có nền kinh tế tự cường và bền vững.

Trên đây là một số bài học rút ra từ các quốc gia có chế độ Xã hội Dân chủ. Mỗi nước có thể áp dụng với sự mềm dẽo và sự thích nghi. Vì thực tế, cho thấy mỗi quốc gia có hoàn cảnh khác nhau, nên sự áp dụng có khác nhau về mức độ sự can thiệp của Chánh quyền trong cái khung và cái nền của Xã hội Dân chủ.

Cuối cùng, yếu tố cốt lõi nhất trong chế độ chánh trị là con người. Đó là ý thức, là lòng thành, là trách nhiệm của mỗi người dân và của các nhà lãnh đạo luôn vì lợi ích của dân tộc.

Nguyễn Bá Lộc

California, 15 tháng 7 năm 2026

 Tài liệu Tham Khảo

  1. “The Nordic Model: Capitalism Meet Welfare”, James Mc Whinney, Investtopedia Answers, 3-2026.
  2. “Democratic Socialism Isn’t Social Democracy”, Machael A.McCarthy
  3. “Nordic Model”, Wikipedia
  4. “The Economics and Politcs of Social Democrscy”: A Reconsideration,Serviaas Storm, 2020
  5. “The Theory of Social Democracy”, Michael Thompson, 2007

6.The Noric Model of Economic Development and Welfare: Recent Developments and Future Prospects, Roberto lacono, Leibniz Information Center for Economics

  1. “The Mirage of Swedish Socialism”: The Econimic History of a “Wellfare State”, John Norberg.
  2. “Social Democracy in the Modern World”, Africa Thinktank Dialogue, 2022
  3. “Strenghtening Social and Solidarity Economy Landscape in Asia”, Internatioal Labor Organization, 2022
  4. “The Time of Democracy is Now”, Human Rights Foundation
  5. “The Asian Tigers Are a Model for the Global South”, Human Progress, 2021
  6. “What are the Major Lessions From East Asian Development Experiences”, Carlos Numo castel Branco, 1996
  7. “Government Role in Korea’s Economic Development”, Sagin Park
  8. “Is Government Intervention Good for Economic Growth? It Depends”, Jim Gibson, 5-2025
  9. “More Americans Are in Favor of Socialism Than Ever Before”, Jose Nino, July-2019, Advocates.
  10. “Do Democratic socialists really want socialism? If so, they have no place in America”, Joslin Joseph, The Hill, 7/6/2026
Împărtășește-ți dragostea
Nguyễn Bá Lộc
Nguyễn Bá Lộc
Articole: 3