Cộng Hòa Là Gì?

Hiểu về nền Cộng hòa Hoa Kỳ trong tương quan với các quốc gia khác

Scene at the Signing of the Constitution of the United States- 1940 oil-on-canvas painting by American illustrator and artist Howard Chandler Christy.

Khi Benjamin Franklin bước ra khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787, có người hỏi ông rằng các đại biểu đã tạo ra loại chính quyền nào. Ông đáp: “Một nền cộng hòa, nếu quý vị có thể gìn giữ được nó.(A Republic, if you can keep it.)”

Câu nói ấy đã đi vào lịch sử. Nhưng có một chữ trong đó mà người Việt chúng ta, và cả nhiều người Mỹ, thường dùng một cách mơ hồ. Đó là chữ cộng hòa. Bài viết này xin được giải thích một cách giản dị: cộng hòa thật ra có nghĩa gì, và vì sao nền cộng hòa của nước Mỹ lại khác với nước Pháp, nước Anh, hay nước Đức, dù tất cả đều là những quốc gia tự do.

Cộng hòa không đồng nghĩa với dân chủ

Trước hết, cần phân biệt hai chữ mà tiếng Việt lẫn tiếng Anh hay dùng lẫn lộn: dân chủcộng hòa.

Dân chủ (democracy) trả lời cho câu hỏi: Ai là người nắm quyền? Câu trả lời: người dân. Quyền lực bắt nguồn từ dân, thường qua lá phiếu.

Cộng hòa (republic) trả lời cho một câu hỏi khác: Quyền lực ấy được tổ chức và giới hạn như thế nào? Chữ này bắt nguồn từ tiếng La-tinh res publica, nghĩa là “việc chung”: công việc của mọi người, không phải tài sản riêng của một dòng họ hay một đảng phái tập quyền.

Nói cách khác, một nước có thể vừa dân chủ vừa cộng hòa, nhưng hai chữ ấy nhấn mạnh hai điều khác nhau. Dân chủ nói về nguồn gốc của quyền lực. Cộng hòa nói về cấu trúc và giới hạn của quyền lực. Các nhà lập quốc Hoa Kỳ cố tình không xây một nền dân chủ trực tiếp, nơi dân chúng tụ họp lại và tự mình quyết định mọi việc như ở thành Athens thời cổ đại. Họ e ngại sự bốc đồng của đám đông. Họ chọn một nền cộng hòa đại nghị: dân bầu ra người đại diện, và ý dân được lọc qua sự bàn luận, qua các nhiệm kỳ so le, qua nhiều tầng cân nhắc.

Ba đặc điểm cốt lõi của một nền cộng hòa

Theo cách hiểu của các nhà lập quốc, một nền cộng hòa đích thực có ba đặc điểm nền tảng.

Thứ nhất, không có vua truyền ngôi. Không một chức vụ nào, kể cả chức vụ cao nhất, được thừa hưởng bằng dòng máu hoàng gia. Mọi chức vụ đều do bầu cử hoặc bổ nhiệm, và đều chỉ nắm giữ tạm thời. Đây là sự đoạn tuyệt dứt khoát với trật tự quân chủ của châu Âu thời bấy giờ.

Thứ hai, cai trị qua đại diện. Người dân không tự mình cai trị trực tiếp, mà bầu ra những người đại diện để thay mặt mình bàn luận và quyết định. Như James Madison viết, thể chế này “tinh luyện và mở rộng” ý dân bằng cách cho nó đi qua những người đại diện đã được chọn lựa.

Thứ ba, quyền lực bị chia tách và giới hạn bởi một bản hiến pháp thành văn. Đây chính là phần quan trọng nhất trong lời cảnh báo của Franklin. Nền cộng hòa Hoa Kỳ không chỉ là “dân làm chủ” mà là quyền làm chủ ấy bị ràng buộc bởi luật pháp: quyền lực được chia cho ba ngành hành pháp, lập pháp, tư pháp; được phân chia giữa liên bang và tiểu bang; được kiềm chế và đối trọng lẫn nhau; và có những quyền của con người mà ngay cả đa số cũng không được phép chà đạp.

Chính vì thế, chữ “nếu quý vị có thể gìn giữ được” của Franklin chỉ thẳng vào điều này: điều mong manh không phải là quyền làm chủ của dân, mà là bộ máy tự kiềm chế giữ cho quyền làm chủ ấy không sụp đổ thành loạn đám đông, cũng không biến thành một chế độ độc tài mới.

So sánh với các quốc gia tự do khác

Điều thú vị là: phần lớn những nước tự do mà chúng ta hay nhắc đến – Anh, Pháp, Đức – đều là những nền dân chủ, đều tôn trọng quyền con người, nhưng lại tổ chức thể chế “cộng hòa” rất khác nhau, và có nước còn không phải là cộng hòa theo nghĩa chặt chẽ.

Để dễ hiểu, ta hãy tách ra ba câu hỏi độc lập mà ngôn ngữ thường ngày hay gộp làm một. Một là: nguyên thủ quốc gia có phải là vua cha truyền con nối hay không? Hai là: có một bản hiến pháp thành văn tối cao ràng buộc cả quốc hội, hay chính quốc hội mới là tối cao? Ba là: ngành hành pháp tách rời khỏi quốc hội, hay hòa lẫn vào trong quốc hội?

Vương Quốc Anh (The United Kingdom). Đây là sự tương phản rõ nhất. Vương Quốc Anh là một nền quân chủ lập hiến, tức là không phải cộng hòa. Nó vẫn giữ một nguyên thủ cha truyền con nối. Sâu xa hơn, Vương Quốc Anh theo nguyên tắc quốc hội tối thượng: Quốc hội là quyền lực pháp lý cao nhất, và không có một bản hiến pháp thành văn duy nhất nào mà Quốc hội không thể sửa đổi bằng một đạo luật thông thường. Không có tòa án nào có thể viện dẫn một văn bản hiến pháp để bác bỏ một đạo luật của Quốc hội, như Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ vẫn làm. Quyền lực ở Anh hòa lẫn chứ không tách rời: chính phủ được lập ra từ chính Quốc hội và chịu trách nhiệm trước Quốc hội, và vị thủ tướng ngồi ngay trong Quốc hội. Nước Anh tự do và dân chủ, nhưng trên cả ba câu hỏi trên, nó gần như là hình ảnh đối nghịch với nền cộng hòa của Franklin. Thế hệ lập quốc Hoa Kỳ đã tự định nghĩa mình bằng cách chống lại chính mô hình này.

Nước Pháp (France). Nước Pháp đúng là một nền cộng hòa theo nghĩa chặt – không có vua, có một nguyên thủ do dân bầu. Người Pháp thậm chí còn mang căn tính cộng hòa mãnh liệt hơn cả người Mỹ, bởi họ đã phải đổ máu tranh đấu cho nó nhiều lần: nước Pháp từng đi qua quân chủ, đế chế, rồi cộng hòa, lặp đi lặp lại nhiều bận trước khi có nền Đệ Ngũ Cộng hòa hiện nay, thành lập năm 1958. Nhưng nước Pháp tổ chức nền cộng hòa theo cách khác. Đệ Ngũ Cộng hòa là một thể chế bán tổng thống: một tổng thống do dân trực tiếp bầu và có thực quyền, cùng tồn tại với một thủ tướng chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Từ đó nảy sinh hiện tượng “chung sống” (cohabitation), khi tổng thống và thủ tướng đến từ hai phe đối nghịch, điều không thể xảy ra trong hệ thống chính trị Hoa Kỳ. Nước Pháp cũng có truyền thống tập trung quyền lực về trung ương rất mạnh; đó là một nhà nước nhất thể chứ không phải liên bang, nên thiếu sự phân chia quyền lực theo chiều dọc giữa trung ương và địa phương như ở Mỹ. Vậy nước Pháp giống Mỹ ở điểm thứ nhất (là cộng hòa, không phải quân chủ), nhưng khác ở chỗ nó không theo thể chế liên bang và ở cách tổ chức quan hệ giữa hành pháp với lập pháp.

Nước Đức (Germany). Nước Đức là một nền cộng hòa liên bang đại nghị, và trường hợp này rất đáng suy ngẫm vì nó chia sẻ với nước Mỹ những mảnh ghép khác so với nước Pháp. Nước Đức không có vua (là cộng hòa), và điều quan trọng là nó theo thể chế liên bang, với quyền lực thực sự được trao cho các bang (Länder) và một viện thứ hai (Bundesrat) đại diện cho các bang ấy, tương tự như thể chế liên bang và Thượng viện của Mỹ. Nước Đức cũng có một bản hiến pháp thành văn tối cao thật sự (Luật Cơ bản, Grundgesetz), cùng một Tòa Bảo hiến đầy quyền lực có thể bác bỏ các đạo luật vi hiến, rất gần với cơ chế tài phán hiến pháp của Mỹ. Người Đức đã cố ý xây dựng cơ chế này sau năm 1949, để ngăn ngừa sự tái diễn của thảm họa từng đưa Đức Quốc Xã lên nắm quyền. Nhưng ngành hành pháp của Đức lại theo lối đại nghị: vị Thủ tướng do Quốc hội (Bundestag) chọn ra và chịu trách nhiệm trước Quốc hội, chứ không được bầu riêng, còn vị tổng thống chỉ mang tính nghi lễ. Vậy nước Đức giống Mỹ ở thể chế liên bang và ở tính tối cao của hiến pháp, nhưng khác ở chỗ hành pháp không tách rời khỏi lập pháp.

Bảng so sánh thể chế bốn quốc gia

Để dễ theo dõi, bảng dưới đây tóm tắt tất cả những khác biệt vừa bàn. Xin đọc theo từng hàng: mỗi hàng là một câu hỏi về cách tổ chức quyền lực, và ta có thể thấy ngay bốn quốc gia trả lời khác nhau ra sao.

Đặc điểm thể chếHoa KỳVương Quốc AnhPhápĐức
Nguyên thủ quốc giaTổng thống (dân bầu)Vua/ Nữ hoàng (cha truyền con nối)Tổng thống (dân bầu)Tổng thống (nghi lễ)
Cộng hòa hay quân chủ?Cộng hòaQuân chủ lập hiếnCộng hòaCộng hòa
Hiến pháp thành văn tối cao?Không (quốc hội tối thượng)Có (Luật Cơ bản)
Tòa án bác luật vi hiến?Có (tài phán hiến pháp)Rất hạn chếCó (Hội đồng Bảo hiến)Có (Tòa Bảo hiến)
Liên bang hay nhất thể?Liên bangNhất thểNhất thểLiên bang
Hành pháp và lập phápTách rời (tổng thống chế)Hòa lẫn (đại nghị)Bán tổng thốngĐại nghị
Năm khởi lập trật tự hiện hành1788Không có mốc duy nhất1958 (Đệ Ngũ CH)1949 (Luật Cơ bản)

Nhìn vào bảng, ta thấy điều cốt lõi: chỉ riêng Hoa Kỳ hội đủ cả bốn đặc điểm, cộng hòa, tổng thống chế, liên bang, và hiến pháp tối cao. Anh Quốc không có đặc điểm nào trong bốn. Pháp có đặc điểm cộng hòa nhưng tổ chức phần còn lại theo cách khác. Đức giống Mỹ ở tính liên bang và hiến pháp tối cao, nhưng hành pháp lại theo lối đại nghị.

Điều gì làm nên nét riêng của nền cộng hòa Hoa Kỳ

Có một cách gọn gàng để ghi nhớ tất cả những điều trên. Nền cộng hòa Hoa Kỳ khác biệt không phải vì nó “dân chủ” (các nước kia đều dân chủ), cũng không phải chỉ vì nó không có vua (Pháp và Đức cũng không có vua). Nó khác biệt vì nó gộp bốn đặc điểm vào cùng một khối, trong khi các nước khác phân bổ chúng theo những cách khác nhau:

  • Cộng hòa: không có người cai trị cha truyền con nối.
  • Tổng thống chế: ngành hành pháp tách rời và ngang hàng với lập pháp.
  • Liên bang: quyền lực được chia theo chiều dọc giữa liên bang và tiểu bang.
  • Hiến pháp tối cao: một bản hiến pháp thành văn ràng buộc cả quốc hội, được bảo vệ bởi quyền tài phán của tòa án.

Nước Anh không có đặc điểm nào trong bốn điều trên. Nước Pháp có điều thứ nhất nhưng tổ chức những điều còn lại theo cách khác. Nước Đức có điều thứ nhất, thứ ba và thứ tư, nhưng không có điều thứ hai. Chỉ riêng nước Mỹ hội đủ cả bốn.

Một điều cần phân biệt: tên hai đảng và tên thể chế

Đến đây, cần dừng lại để làm rõ một điều: Trong suốt bài viết này, chữ cộng hòadân chủ là những khái niệm về thể chế, tức là cách tổ chức chính quyền. Đó là chuyện lý thuyết chính trị, không dính gì đến đảng phái.

Nhưng ở Hoa Kỳ còn có hai chính đảng mang tên gần giống hai chữ ấy:

  • Đảng Cộng Hòa (Republican Party): thường được gọi tắt là “GOP”, biểu tượng con voi.
  • Đảng Dân Chủ (Democratic Party): biểu tượng con lừa.

Do vậy, cần nhớ rõ: nước Mỹ là một nền cộng hòa, dù đảng nào cầm quyền đi nữa. Và nước Mỹ cũng là một nền dân chủ, dù đảng nào cầm quyền đi nữa. Thể chế cộng hòa và dân chủ là mái nhà chung mà cả hai đảng đều sống bên trong.

Nói cách khác: một người bỏ phiếu cho Đảng Dân Chủ vẫn đang sống trong một nền cộng hòa. Một người bỏ phiếu cho Đảng Cộng Hòa vẫn đang sống trong một nền dân chủ. Tên đảngtên thể chế là hai chuyện hoàn toàn khác nhau, chỉ trùng chữ mà thôi. Khi ta nói “nước Mỹ là một nền cộng hòa dân chủ,” ta đang nói về thể chế. Khi ta nói “ông ấy thuộc Đảng Cộng Hòa” hay “bà ấy thuộc Đảng Dân Chủ,” ta đang nói về đảng phái. Chữ giống nhau, nhưng nghĩa khác nhau.

Vì sao điều này quan trọng

Khi hiểu được cấu trúc ấy, lời cảnh báo của Franklin hiện ra một ý nghĩa sâu hơn. Trong mô hình nước Anh, sự bền vững dựa phần lớn vào tập tục, truyền thống, và sự tự chế của một Quốc hội tối thượng. Trong mô hình Hoa Kỳ, sự bền vững lẽ ra phải dựa vào chính bộ máy, vào các cơ chế kiềm chế – các sự phân chia, các giới hạn thành văn – để làm công việc tự chế mà không một cá nhân nào có thể được tin cậy để tự nguyện làm lấy.

Nhưng ý của Franklin là: ngay cả bộ máy ấy cũng không tự vận hành mãi mãi. Một bản hiến pháp cũng chỉ là một văn bản trên giấy. Sự phân chia quyền lực chỉ đứng vững nếu những người cầm quyền và người dân chọn tôn trọng sự phân chia ấy, thay vì tìm cách lách qua nó. Đó là lý do vì sao, sau cùng, chính người dân – những cử tri, những người biết chấp nhận thất bại qua lá phiếu mà không đốt bỏ cả hệ thống mới là những người thật sự “gìn giữ” nền cộng hòa. Các thể chế mô tả lý tưởng; nhưng việc gìn giữ nó là một hành động không ngừng nghỉ của con người.

Đó cũng chính là điều làm cho một nền cộng hòa trở thành hình thức chính quyền khó khăn nhất và đáng quý nhất. Nó đòi hỏi nhiều nhất ở người dân. Và với những ai trong chúng ta đã từng mất tự do rồi tìm lại được nó, ý nghĩa của chữ cộng hòa ấy lại càng thấm thía hơn bao giờ hết.

Phó Thường Dân

Sách và Tài Liệu Đọc Thêm

The Federalist Papers – Alexander Hamilton, James Madison và John Jay (1787–1788). Tuyển tập 85 tiểu luận giải thích rõ nhất về ý đồ của các nhà lập quốc Hoa Kỳ; đặc biệt nên đọc bài số 10, 39 và 51.

Democracy in America – Alexis de Tocqueville (1835–1840). Một người Pháp quan sát nước Mỹ và giải thích vì sao nền dân chủ ở đây vận hành được.

The Spirit of the Laws – Montesquieu (1748). Nguồn gốc của học thuyết tam quyền phân lập mà các nhà lập quốc Hoa Kỳ đã áp dụng.

Împărtășește-ți dragostea
Phó Thường Dân
Phó Thường Dân
Articole: 1