Hạnh Phúc: GNI hay GNH? *

  • Cứu cánh của luật pháp là tăng thêm hạnh phúc. Mục tiêu chung mà luật pháp có hoặc nên có là tăng thêm hạnh phúc cho cộng đồng, và do đó trước tiên là loại trừ, càng nhiều khi có thể, mọi thứ có khuynh hướng trừ đi khỏi hạnh phúc, nói cách khác, trừ đi nỗi khổ đau.

(The end of law is to augment happiness. The general object which all laws have, or ought to have, in common, is to augment the total happiness of the community; and therefore, in the first place, to excude, as far as may be, every thing that tends to substract from that happiness, in other wơrds, to exclude mischief.) –  Jeremy Bentham (1748 – 1832)

  • Cháu hãy tạo ra tất cả niềm hạnh phúc mà cháu có thể tạo ra được: Hãy gở bỏ tất cả khổ sở mà cháu có thể gở bỏ. Mỗi ngày sẽ cho phép cháu thêm một thứ gì đó vào niềm vui của những người khác, hay gỉảm dần đi một thứ gì đó khỏi đau đớn của họ. Và đối với mỗi hạt mầm vui hưởng mà cháu gieo rắc vào lòng người khác, cháu sẽ gặt hái được trong lòng cháu, trong khi mỗi đau buồn mà cháu nhặt ra khỏi tư tưởng và cảm xúc của người đồng loại sẽ được thay thế bằng sự thanh thản và niềm vui tốt đẹp nơi sâu kín của tâm hồn cháu.

 (Create all the happiness you are able to create: remove all the misery you are able to remove. Every day will allow you to add something to the pleasure of others, or to disminish something of their pains.  And for every grain of enjoyment you sow in the bosom of another, you shall find a harvest in your own bosom; while every sorrow which you pluck out from the thoughts and feeling of a fellow creature shall be replaced by beautiful peace and joy in the sanctuary of you soul.)Jeremy Bentham (1748 – 1832)

Hạnh Phúc là một từ rất quen thuộc.  Mỗi ngưòi trong chúng ta đều đã trải nghiệm những xúc cảm tích cực sung sướng, thích thú và ấm áp mà chúng ta xem là hạnh phúc, hoặc nhiều khi đã sử dụng từ này một cách thành thực, hay đôi lúc khách sáo để chúc tụng những người khác.  Nó cũng là đề tài lớn đã được đề cập và nghiên cứu công phu qua tôn giáo, triết học, văn chương, tâm lý học, xã hội học, chính trị học, thần kinh học, truyền thông vv. Trong các sách trích dẫn những lời hay ý đẹp (Quotations) tiếng Anh, điểm mục Happiness chiếm nhiều trang trích dẫn nhất so với những điểm mục khác như Democracy, Liberty.  Trong mấy thập niên vừa qua, Hạnh Phúc lại được nhiều kinh tế gia hân hoan chào đón sự trở lại của nó.  Gọi là trở lại bởi vì Hạnh Phúc đã từng đi vào lãnh vực công trong một thời gian, rồi lặng lẽ biến đi.

Hạnh Phúc có lẽ lần đầu tiên được nghiên cứu cẩn thận và “khoa học” để đưa vào lãnh vực công là do trường phái Utilitarianism (tạm dịch Trường Phái Hạnh Phúc) mà nhà tiên phong Jeremy Bentham, người Anh, đã được trích dẫn dưới tựa đề của bài viết ngắn này. Trường Phái Hạnh Phúc chủ trương rằng giá trị của mỗi hành động con người là do sự đóng góp của nó vào hạnh phúc tổng thể (overall utility).  Người viết bài này lần đầu tiên (1972) chạm mặt với chữ utility trong môn học Microeconomics.  Trước đó Đại Học Luật Khoa Saigon cũng như Học Viện Quốc Gia Hành Chánh không có dạy môn Microeconomics, cho nên khi gặp khái niệm cho rằng người mua, với cùng một số tiền nhất định, chọn món hàng A mà không chọn món B vì món hàng A mang lại cho anh ta nhiều utility hơn, người viết sau khi tra khảo vài quyển tự điển lớn, đã chọn nghĩa utility là “sự thỏa mãn” (satisfaction) và từ đó hài lòng với ý nghĩa này.

Mãi mấy mươi năm sau, trở lại Hoa Kỳ mới thấy Dictionary of Economics (xb bởi John Wiley & Sons, Inc. 1998; có lẽ xuất bản lần đầu tiên năm 1972) định nghĩa utility là “the pleasure or satisfaction derived from an individual from being in a particular situation or from consuming goods or services”.  Gần đây, khi cập nhật hóa kiến thức ở tuổi ngoại bát tuần, người viết lại thấy A Dictionary of Economics, 5th edition (do Oxford University Press xb năm 2017) cho rằng utility đồng nghĩa với “an lạc cá nhân” (a synonym of individual welfare). Tới đây hình như độc giả đã thấy quen quen với 3 từ Hạnh Phúc (Happiness), Hài Lòng Với Cuộc Sống (Life Satisfaction) và An Lạc (Welfare hay Well-Being). Và điều này xảy ra cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi mà nhiều kinh tế gia và chính trị gia đã sử dụng chúng trong các nghiên cứu tầm cở của mình; thậm chí có không ít tác giả đã dùng 3 từ thay thế cho nhau mà không cần thêm một tính từ nào để cho rõ nghĩa hơn. Tựa đề bài viết này, đáng lẽ nên có tên là: “An Lạc Chủ Quan:  Thu Nhập Quốc Gia Tổng Gộp hay Hạnh Phúc Quốc Gia Tổng Gộp?” (Subjective Well-being: Gross National Income or Gross National Happiness?) Dưới đây bài viết sẽ được khai triển theo các khái niệm này.

Hạnh Phúc

Thái tử Si Đạt Ta một ngày nọ ra khỏi hoàng cung để quan sát thế gian bên ngoài.  “Chính mắt quan sát của thái tử đã thấy một cụ già chân mỏi gối dùn, một người bệnh hoạn đau khổ, một thây ma hôi thúi và một đặo sĩ nghiêm trang khả kính.  Ba cảnh già, bệnh và chết hùng hồn xác nhận quan điểm [trước đây] của thái tử về đời sống của nhân loại.  Hình ảnh thong dong từ tốn của nhà tu sĩ thoáng cho Ngài hé thấy con đường giải thoát, con đường an vui hạnh phúc thật sự. Bốn quang cảnh bất ngờ ấy thúc giục thái tử … sớm thoát ly thế tục.” Và Ngài “quyết định rời bỏ cung điện đền đài để ra đi, tìm Chân Lý và An Tĩnh Trường Cửu.”. (Đức Phật và Phật Pháp do Phạm Kim Khánh dịch từ The Buddha and His Teachings của tác giả Narada Maha Thera; xb 2001).

Nhiều nhà tư tưởng và các vị sáng lập các tôn giáo khác sau này còn cho rằng con người chỉ có thể thoát khỏi đau đớn, khổ cực của cuộc đời này ở kiếp sau mà thôi.  Các nhà tâm lý học và bác sĩ tâm thần trong nhiều thế kỷ gần đây chỉ thấy khía cạnh tiêu cực của sức khoẻ tâm thần như bệnh trầm cảm, lo âu, hoang tưởng (hallucination, delusion) mà tìm cách nghiên cứu trị liệu.  Nhiều triết gia dày công suy tưởng mong đem hạnh phúc cho con người, nhưng rốt cuộc chỉ có thể mang lại một ít triết lý cao siêu cho một số nhỏ người hay một giai cấp thượng lưu trí thức.  Không giống như những nhân vật tích cực trên, Jeremy Bentham có suy nghĩ khá thực tế, sát với con người và xã hội hơn.

Bentham được đào tạo như một luật gia, nhưng chỉ hành nghề luật sư trong một thời gian ngắn.  Không nổi tiếng trong nước Anh khi còn sống chỉ vì tư tưởng quá cấp tiến, tương phản với khuynh hướng bảo thủ đương thời, đôi khi còn bị xem là lập dị (eccentric).  Ông chủ trương dùng luật pháp để cải tạo xã hội.  Theo A.C. Grayling, trong quyển The History of Philosophy (xb 2019), ông chịu ảnh hưởng của David Hume (1715-71, người Anh) khi ông tìm thấy rằng utility là tiêu chuẩn của đức tính (utility is the criterion of virtue); của Claude Hévetius (1738-94, người Pháp) khi ông quả quyết rằng utility hướng dẫn hành động của con người khi nối kết hành động với ý nghĩ về thú vui hay đau đớn có thể gây ra; và của Cesare Bonesa-Beccaria (1738-94, người Ý) khi ông kêu gọi xã hội sản sinh ra hạnh phúc lớn nhất cho con số người đông nhất” (to produce the greatest happiness for the greatest number) .  Ngay từ những dòng đầu của quyển An Introduction to the Principles of Morals and Legislation (xb lần đầu tiên năm 1789), Bentham quả quyết rằng con người, từ hành động đến lời nói và suy nghĩ đều bị điều khiển bởi 2 ông chủ quyền lực (sovereign masters): đó là đau đớn (pain) và niềm vui (pleasure). Từ các ý tưởng của ba triết gia trên, Bentham đưa ra nguyên lý về an lạc (the princciple of utility, còn được gọi là the greatest happiness principle hay the greatest felicity principle), theo đó thì trước khi chấp nhận hay phủ nhận làm bất cứ một hành động nào, người trong cuộc cũng sẽ phải cân nhắc là nó sẽ tăng thêm niềm vui hay giảm đi đau đớn.

Ông hô hào mọi người trong xã hội hãy tạo ra hạnh phúc lớn nhất cho nhiều người nhất như đã nói trên.  Nhưng làm sao có thể thực hiện được điều này khi mà hạnh phúc cá nhân mà mình muốn đạt được cho mình lại làm phương hại đến hạnh phúc cá nhân của những kẻ khác, hay tạo đau đớn cho kẻ khác? Để giải quyết nghịch lý này, Bentham khuyên người ta chọn những hành động nhằm tăng thêm niềm vui cho chính mình bằng cách đem lại thêm niềm vui cho kẻ khác, ít nhiều gì cũng được. Trong khi đó, nhiều người trong chúng ta lại có ý nghĩ trái ngược: mong sao ai đó, có cách nào đó giúp lấy đi bớt đau đớn của mình, mà không cần nhận thêm thứ vui khác, dù là hạnh phúc đi nữa!  Nhiều nghiên cứu tâm lý gần đây cho thấy đau đớn dễ khoét sâu và dai đẳng, hơn hẳn nhiều so với niềm vui lớn có thể mang lại.

Chúng ta thấy Bentham rất nhất quán trong tư tưởng của mình trong hai trích dẫn dưới tựa đề.  Trích dẫn thứ nhất lấy từ quyển An Introduction xuất bản năm 1789 nói trên, và trích thứ hai là từ một bức thư mà ông viết cho con gái của một người bạn một thời gian ngắn trước khi ông qua đời (1832). Trong bức thư riêng tư này, Hạnh Phúc được xem như chuyện cá nhân, nhưng trong quyển sách, thì Hạnh Phúc lại được xem như điều mà luật pháp nói riêng, và các chính sách nhà nước nói chung cần phải mang lại cho công chúng.  Vấn đề ở đây là làm sao tổng gộp hay hội nhập những xúc cảm ý kiến riêng tư của tất cả mọi người để làm thành chính sách –ngắn hạn hoặc dài hạn– cho một cộng đồng nhỏ như quận hạt hoặc cộng đồng lớn như quốc gia?

Để có thể hiểu Bentham dễ hơn, chúng ta có thể chia hạnh phúc thành 3 cấp độ như Daniel Nettle đã làm trong chương dẫn nhập (Introduction) của quyển Happiness: Classics and Contemporary Readings in Philosophy (Oxford University Press xb 2008).  Hạnh phúc cấp độ 1 là những thứ mang lại xúc cảm tích cực thuần túy, không xen lẫn nhận thức, như những thú vui dung tục mà bình dân chúng ta gọi là “tứ khoái” (ăn. ngủ, làm tình, đại tiện).  Loại cấp độ này dễ đạt, nhưng không dài lâu.  Hạnh phúc cấp độ 2 gồm những thú vui vừa mang lại cảm xúc tích cực vừa xen lẫn nhận thức về hành động của mình đối với chính mình cũng như ảnh hưởng đến người khác, chẳng hạn giúp đỡ người khác, hoàn tất bổn phận đối với các thành viên gia đình.  Hạnh phúc cấp độ 3 là thứ hạnh phúc chỉ đến với những nhà hiền triết nhờ những đức tính đặc biệt của họ, cũng như những cây sáo tốt chỉ có thể làm ra bởi các nghệ nhân có kỹ năng siêu việt; đây là loại hạnh phúc mà Aristote gọi là eudaimonia. Qua những tiêu chuẩn này, Hạnh phúc mà Bentham đề cập trong sách của ông có thể xếp vào loại hạnh phúc cấp độ 2.

Con người kinh tế là con người hợp lý (rational), vì mình (seft-interested) cho nên mỗi hành động thực hiện là nhằm tối đa hóa (maximize) hạnh phúc/thỏa mãn/an lạc (utility) cho mình.  Trong kinh tế học, utility được xem như là mục tiêu tối hậu của mọi hoạt động kinh tế.  Lấy một thí dụ, với một số tiền M, bạn định mua một số lượng cà phê và một số lượng trà với giá bán nhất định nào đó để vui vẻ trong một tuần lễ. Bạn có thể mua được x1 gram cà phê và y2 gram trà, hoặc x2 gram cà phê và y2 gram trà, hoặc x3 gram cà phê và y3 gram trà vv.  Trên trục đồ thị mà hoành độ là số lượng cà phê và tung độ là số lượng trà, nối liền các điểm A, B, C … cho các chọn lựa của bạn, bạn sẽ có một khúc tuyến U1 uốn cong cong giống như một nhánh hyperbol biểu thị utility của các sự chọn lựa của bạn.  Trên khúc tuyến đó, tất các chọn lựa của bạn đều đem lại tối đa utility.  Nếu bạn muốn tăng thêm utility thì các khúc tuyến cong cong U2, U3 … sẽ di chuyển xa hơn về phía phải, nghĩa là bạn phải có nhiều tiền hơn.  Các khúc tuyến này được gọi là những khúc tuyến trung lập (indifferent curves), mà trên mỗi khúc tuyến, người tiêu thụ không biết nên chọn điểm nào vì ở đâu gói 2 món hàng cũng đều đem lại cho mình sự thỏa mãn tối đa.  Đây là utility của mỗi cá nhân.

Học thuyết Utilitarianism cho rằng utility của một cộng đồng chỉ là tổng số utility của tất cả các thành viên của cộng đồng đó, và chủ trương chính quyền phải có nhiệm vụ tối đa hóa cái tổng số này.  Bentham đã đưa ra nhiều phương pháp để đo lường utility của các cá nhân, cũng như của một số người (chương 5).  Theo ông, “Đối với cá nhân tự đánh giá, thì giá trị (value) của niềm vui hay đau đớn tự nó sẽ lớn hơn nhỏ hơn tùy theo bốn tình huống sau đây: (1) tính mãnh liệt (intensity), (2) dài lâu (duration), (3) chắc chắn hay không chắc chắn (certainty or uncertainty), (4) gần hay xa (propinquity or remoteness).  Nếu ảnh hưởng đến người khác, thì cần thêm (5) hệ quả (fecundity).  Trong trường hợp của một số người, thì phải thêm (6) sự thuần khiết (purity) và (7) phạm vi ảnh hưởng (extent).

Việc phân tích và đánh giá niềm vui hay đau đớn theo phương cách này quả thật không dễ gì đưa tới những con số chính xác rõ ràng thuyết phục. Do đó học thuyết Utilitarianism của Bentham không được quan tâm bằng tác phẩm An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations của Adam Smith xuất bản lần đầu tiên năm 1776, chỉ vài mươi năm trước đó và vẫn còn đang được quảng đại quần chúng đón nhận. Sự gặp gỡ năm 1808 giữa Bentham với John Stuart Mill, người khai triển học thuyết này lại đưa đến sự hình thành một phong trào dân chủ ở Anh, hơn là đào sâu lý luận kinh tế.

Tuy nhiên khái niệm utility cũng giúp lý giải được ít nhiều cho hoạt động kinh tế. Trên thực tế, người ta có thu nhập thì mới có tiền để tiêu dùng cho những nhu cầu mang lại an lạc:

Thu Nhập (Income) => Tiêu Dùng (consumption) => An Lạc (Utility)

Theo diễn tiến này, lý luận thông thường cho rằng thu nhập càng cao, thì tiêu dùng càng nhiều và người tiêu dùng sẽ được an lạc/ hạnh phúc hơn. Lý luận này nhất quán với học thuyết an lạc của Bentham. Vậy thì cá nhân cũng như xã hội muốn được hạnh phúc hơn thì phải cố làm việc để có thu nhâp cao hơn; luật pháp nói riêng và chính quyền nói chung có nhiệm vụ tạo cơ hội để cho người ta có công việc làm hầu duy trì hay tăng thêm thu nhập. Điều này đưa đến ý niệm về Thu Nhập Quốc Gia Tổng Gộp (Gross National Income, GNI) cũng như Thu Nhập Quốc Gia Tổng Gộp Từng Người (GNI per capita) sẽ được bàn sau.

Giữa tiêu dùng và an lạc là tính toán và chọn lựa.  Con người kinh tế sẽ chọn chọn hàng hóa/dịch vụ thế nào đó để tối đa hóa ý thích, niềm vui, sự thỏa mãn, hạnh phúc, an lạc vv., nói chung là đem lại utility tối đa cho mình. Ở đây cũng cần nhắc lại, trên lý thuyết con người kinh tế là con người hợp lý (rational), vì mình (self-intereste) và biết tối đa hóa (maximize) lợi ích.

Trong nền kinh tế thị trường, người mua phải trả tiền cho utility mang lại cho mình.   Do đó đồng tiền tượng trưng cho sở thích biểu hiện (revealed preference). Mặc dù về sau môn  kinh tế học về thái độ (behaviorist econonmics) cho biết rằng không phải lúc nào đồng tiền cũng phản ảnh trung thực hay tiết lộ chính xác sở thích con người.  Tuy nhiên trên thực tế, khái niệm đồng tiền là “lá phiếu” quyết định cung và cầu vẫn là một khái niệm rất quan trọng.

Trong vài thập niên gần đây, học thuyết Utilitarianism lại được nghiên cứu sâu thêm hơn.  Một điều thêm thú vị về Bentham là về hình ảnh của ông.  Jeremy Betham tốt nghiệp Oxford University, sống độc thân. Sau khi qua đời, xác ông được ướp giữ lại với chiếc đầu bằng sáp, được đặt ngay ở cổng trường, và có lúc đã bị sinh viên lấy trộm đi.  Ngày nay mỗi khi trường tổ chức những buổi lễ trọng đại, ông đều được vời tới tham dự!

Cho tới nay, hầu hết các lý thuyết kinh tế dạy tại các trường đại học Âu Mỹ và hoạt động của các tổ chức kinh tế quan trọng thế giới như Ngân Hàng Thế Giới (The World Bank) và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (International Monetary Fund) đều dựa trên kinh tế thị trường mà quyển The Wealth of Nations được xem là cơ sở chính.  Nói một cách tổng quát, thế giới đã có một cái gì đó được xem là cơ sở chung. Thêm vào đó, kinh tế thế giới còn có một công cụ đo lường chung để đo lường sự tăng trưởng kinh tế mà ai cũng biết đến.  Đó là chỉ số kinh tế GDP quen thuộc và phổ biến sẽ đề cập đến dưới đây.

Gross National Income (GNI)

Kinh tế thị trường trông cậy vào “bàn tay vô hình” điều chỉnh những bất quân bình trong các hoạt động kinh tế.  Nhưng bàn tay vô hình thì có lúc chậm chạp, có lúc yếu đuối, không đưa ra kịp lúc và đủ mạnh khiến nhiều khi nền kinh tế phải gặp ít nhiều khó khăn.  Đôi khi bàn tay vô hình lại hoàn toàn bất lực, để cho thế giới phải chao đảo; đó là trường hợp của cuộc Đại Khủng Hoảng Kinh Tế Hoa Kỳ năm 1929. Bàn tay hữu hình của Franklin D. Roosevelt (Tổng Thống Mỹ 4 nhiệm kỳ), cũng như của John M. Keynes (kinh tế gia Anh, đồng sáng lập ra World Bank và IMF năm 1944 tại Hội Nghị Bretton Woods) không phải lúc nào cũng có thể xuất hiện và hiệu quả.

Sau cuộc Đại Khủng Hoảng trên, Quốc Hội Hoa Kỳ vào năm 1934 đã nhờ kinh tế gia Simon Kuznets giúp nghiên cứu đo lường kinh tế nền quốc gia mà trước đó người ta chỉ thường đoán chừng nó qua sản lượng của một số công ty lớn, chẳng hạn số xe hơi xuất xưởng, số tấn than đá, số lượng dầu hỏa khai thác vv. trong một thời gian nào đó.

Trước hết, GDP (viết tắt của Gross Domestic Product, Sản Lượng Quốc Nội Tổng Gộp) là tổng giá trị tính ra tiền theo giá thị trường của tất cả thành phẩm và dịch vụ mà nền kinh tế tạo nên trong một thời gian nào đó, thường là một năm.  Gọi “tổng gộp” vì không trừ đi giá trị máy móc hư hao, nguyên liệu tiêu dùng; gọi “quốc nội” vì nó đo lường các hoạt động nội địa, kể cả của công ty ngoại quốc, nhưng không kể các hoạt động ở nước ngoài của công dân trong nước; gọi “sản lượng” vì nó được sản xuất thực sự ra thị trường.  Dưới đây là công thức quen thuộc trong kinh tế vĩ mô (macroeconomics) để tính GDP:

GDP = C + G +I + X – E

Trong đó C viết tắt của Consumption (tiêu dùng); G viết tắt của Government Expenditure (chi tiêu của chính phủ); I viết tắt của Investment (đầu tư khu vực tư); X là xuất khẩu và E là nhập khẩu. GDP cho biết sức mạnh tổng thể của các nền kinh tế, so sánh chúng cũng sự tăng trưởng của chúng.

Thực ra GDP của một nước chưa phản ánh trung thực tất cả sinh hoạt xã hội của một quốc gia.  Nó chỉ ghi nhận các sinh hoạt kinh tế trên thị trường mà thôi.  Một người phụ nữ đi làm cho một công ty thì được coi là công nhân có lương; nhưng nếu người đó ở nhà làm nội trợ thì không được xem đóng góp gì cho nền kinh tế. Một y tá đi làm ở bệnh viện, thì được xem là công nhân bệnh viện có lương; nhưng nếu chỉ ở nhà chăm sóc cha mẹ bệnh tật, thì được sự chăm sóc này không được xem là một họat động kinh tế!

Ngoài ra, ngay cả nhiều sản phẩm trao đổi hợp pháp trên thị trường cũng có thể bị nghi ngờ về lợi ích của chúng đối với an lạc của xã hội. Trong GDP, sản lượng thuốc lá tăng thêm gấp đôi, lượng nước ngọt tăng lên gấp ba, hay sản lượng bia tăng lên nhiều lần đều được coi là tốt, nhưng lại không tính đến thiệt hại do thuốc lá, nước ngọt và bia có thể mamg lại, nghĩa là không nói lên được sự an lạc của người tiêu dùng.  Công chi quốc phòng cho vũ khí, quân trang, quân dụng tăng từ 2% lên 5% GDP sẽ đóng góp như thế nào cho mưu cầu hạnh phúc?  Thêm vào đó, GDP cũng không nói lên được chất lượng của cuộc sống (quality of life) tài nguyên thiên nhiên càng ngày càng cạn kiệt, hay khi không khí càng ngày càng thêm ô nhiễm.

Khác biệt giữa GDP và GNI là gì? Trước hết GNI (Gross National Thu Nhập Quốc Gia Tổng Gộp) còn được gọi là GNP (Gross National Product, Sản Lượng Quốc Gia Tổng Gộp).  Mà GNP là gỉ? GNP là GDP cộng thêm thu nhập của người dân trong nước kiếm được ở nước ngoài trừ đi thu nhập của các người ngoại quốc hoạt động trong nước. Nói cho dễ hiểu, GNP/GNI của Hoa Kỳ là thu nhập tổng gộp cuả tất cả người dân Mỹ trong và ngoài nước. Đem chia GNP này cho dân số, chúng ta sẽ có Thu Nhập Quốc Gia Tổng Gộp Trên Mỗi Người (GNI per capita). Trong nhiều năm nay, mỗi năm The World Bank đều cung cấp GDP và GDP per capita; GNI và GNI của các quốc gia trên thế giới, cũng như chia các quốc gia theo từng nhóm theo thứ tự lớn nhỏ của các con số đó.  Đa số chúng ta suy đoán rằng các chỉ số này càng cao thì người dân các nước đó sẽ hạnh phúc/ an lạc hơn, hoặc ngược lại. Điều đó chỉ đúng phần nào vì đồng tiên bỏ ra không phản ánh hoàn toàn ước muốn của mình.  Hầu hết các tác giả nghiên cứu về hạnh phúc và an lạc, sử dụng các chỉ số kinh tế GDP hay GDP per capita để nói về sự giàu có, người viết bài nầy ở tựa đề dùng GNI chỉ để nhằm đối chiếu với GNH về hình thức mà thôi.

Ngay từ giữa thập niên 1930, khi đệ trình lên Quốc Hội Hoa Kỳ, cơ quan đặt hàng, công trình nghiên cứu “National Income 1929 – 35” định lượng hóa sản xuất của nền kinh tế Hoa Kỳ, trong đó trong đó có ý niệm GDP, kinh tế gia Simon Kuznets của University of Pennsylvania cũng đã cảnh báo rằng: “Sự an lạc của một quốc gia hiếm khi được giải thích bằng sự đo lường thu nhập của quốc gia đó.” (The welfare of a nation can scarcely be inferred from a measure of national income.”

Chính trị gia Robert Kennedy trong một cuộc vận động tranh cử năm 1968 cũng đã đưa ra nhiều lời chỉ trích “thành tích” của GDP như tính toán ghi nhận các hoạt động ô nhiễm không khí, quảng cáo thuốc lá, chế tạo dao, súng, bom napalm, đầu đạn nguyên tử, sản xuất các chương trình truyền hình cổ vũ bạo lực; nhưng lại không tin tới vẻ đẹp của những bài thơ, hay sức mạnh của hôn nhân.  Nói tóm lại, GDP ghi nhận đủ mọi thứ, chỉ trừ thứ làm cho cuộc đời đáng sống (it measures everything in short, exept that which makes life worthwhile)

Tóm lại, GDP một mặt không ghi hết các hoạt động kinh tế; mặt khác nhiều hoạt động kinh tế mà nó ghi được có thể không mang lại an lạc cho con người.  Tuy nhiên, qua nhiều thập niên nó đã chinh phục thế giới!  Nói chung, nhiều người nghĩ khi GDP của một quốc gia tăng lên thì là một điều tốt và mọi người trong quốc gia đó sẽ hạnh phúc thêm.  Do đó chính quyền muốn cho công dân trong một quốc gia hạnh phúc hơn, thì phải tìm mọi cách để tăng trưởng GDP.  Điều này khiến chúng ta nghĩ tới hai câu nói thường nghe mang hai ý nghĩa trái ngược nhau.   Một câu là “Có tiền mua tiên cũng được.” Câu kia là “Tiền bạc không đem lại hạnh phúc.”

Trong vài thập niên vừa qua, đã có không ít công trình nghiên cứu của Liên Hiệp Quốc và các tổ chức kinh tế khác nhằm bổ sung và hoàn chỉnh phương cách kế toán cho các nền kinh tế quốc gia nói chung, và GDP/GNP nói riêng. Chẳng hạn “Chỉ Số Phát Triển Nhân Bản” (Human Development Index) cho Ngân Hàng Thế Giới đưa ra dựa trên khả năng và chức năng có thể quan sát được của con người như sức khỏe, giáo dục hay khả năng tiếp cận với kỹ thuật.  Hoặc “Chỉ Số An Lạc Kinh Tế Bền Vững” (Index of Sustainable Economic Welfare, ISEW) đề nghị bởi Herman Daly và John Cobb năm 1989 có tính đến sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và ô nhiễm môi sinh.  Nói chung, những chỉ số mới này chỉ là những chỉ số chỉ nhằm cải tiến GDP/GNI hơn là thay thế chúng.

Dưới đây, các con số in trong quyển sách nhỏ The Economist/ Pocket World in Figure xb năm 2021 nói trên cho thấy vào năm 2018, thứ hạng các quốc gia thay đổi tùy theo các chỉ số, như thụ dưới đây:

Quốc Gia              GDP                               GDP                                HDI                         Happiness

per capita          per capita PPP             (Quality of Life)        (theo WHR)

Phần Lan         20 ($50.152)               27 (71,1)                     12 (90,5)                                1

Na Uy                7 ($81.697)                  13 (104,5)                     1 (95,4)                                 2

Hoa Kỳ              14 ($62.795)               15  (100,0)                  15 (92,0)                              18

Singapore          13 ( 64.582)                6  (161,7)                      9 (93,5)                              38

Theo bảng xếp hạng của World Happiness Report, Phần Lan là nước được xem là hạnh phúc nhất hoàn cầu (cột 5). Trong khi đó GDP per capita của nước này chỉ đứng thứ 20 với con số qui ra US$ là 50.152; còn về GDP per capita PPP (cột 3) tức tính theo tính  mức mãi lực (purchasing power parity, PPP, mà 100 của Hoa Kỳ là chỉ số làm căn bản), thì nước này xếp hạng 27. Theo chỉ số HDI (Human Development Index, có tính tới số năm học và tuổi thọ), thì Phần Lan đứng hạng 2, sau Na-Uy mà chỉ số 70-79 đã được xem là rất cao rồi.

Gross National Happiness (GNH)

Vương Quốc Bhutan

Người Vương Quốc Bhutan, trong một ngày hội với lễ phục truyền thống

Photo credit: https://www.dailybhutan.com/article/traditional-costumes-of-bhutan-and-the-evolution-of-kira

 Khi nói đến GNH, nhiều người nghĩ ngay đến vương quốc Phật giáo Bhutan, quốc gia đầu tiên và cho đến nay duy nhất không dùng công cụ GDP, mà là GNH để nói đến sự phát triển xã hội của đất nước mình.  Bhutan là một quốc gia nhỏ, nằm bên cạnh 2 nước rộng lớn Trung Hoa và Ấn Độ, với diện tích chỉ 38.400 km2, và dân số hiện nay chưa tới 800.000 người. GDP per capita năm 2015 chỉ là US$ 2,719. Nếu độc giả muốn biết các thông số kinh tế của quốc gia này thì xin đừng tìm kiếm trong quyển thống kê nhỏ The Economis/Pocket World in Figures, xuất bản hằng năm, cung cấp nhiều thông tin quan trọng cho “thế giới”.  Cần nói ngay đây không phải là quốc gia “hạnh phúc” nhất hành tinh như nhiều người lầm tưỏng.  Năm 1972, Jigme Singye Wang Chuck, quốc vương thứ tư của Bhutan, tuyên bố: “Tôi không quan tâm nhiều đến Sản Lượng Quốc Gia Tổng Gộp. Tôi quan tâm đến Hạnh Phúc Quốc Gia Tổng Gộp.” (I am not interested so much in gross national product.  I am interested in gross national happiness.” (The Washington Post, Monday, October 2011, Section C).  Sự chọn lựa của ông có lẽ đã dựa trên truyền thống lâu đời của dân tộc theo đạo Phật, vốn sống trầm lặng và muốn được bình ổn trong tâm hồn. Thủa đó, thập niên 1970s đã được Liên Hiệp Quốc tuyên bố là “thập niên phát triển” (development decade) bột phát phong trào các kế hoạch kinh tế ngũ niên, tứ niên thời thượng rất được các nước đang phát triển qui hoạch để nhận viện trợ từ các ngân hàng quốc tế, cũng như từ các nước Hoa Kỳ, Liên Xô vì lý do chính trị.  Tuyên bố trên của vua Bhutan quả là đã làm ngạc nhiên mọi người.

Hơn 4 thập niên sau, khi đề tựa cho quyển The Oxford Handbook of Happiness  (hiệu đính bởi S. David, H. Boniwell , A. Conley Ayers,  xb năm 2013),  quốc vương thứ năm Jigme Khesar cho biết rằng vua cha của mình đã  xem GNH quan trọng hơn GNP , và từ đó quốc gia này theo hướng  Phát Triển với Giá Trị (Development with Value) nghĩa là cố tận hưởng những lợi ích của tăng trưởng và hiện đại hóa kinh tế nhưng vẫn bảo đảm rằng trên đường tiến bộ kinh tế vẫn không quên bảo dưỡng những điều làm cho người dân đoàn kết, sống hài hòa với nhau và bảo đảm họ vẫn là người dân Bhutan…  Theo ông, công cuộc hiện đại hóa và những thay đổi chính trị nuôi dưỡng tự do cho cá nhân, nhưng cũng làm cho họ bớt đi nghĩa vụ đối với xã hội và điều thiện lành cao cả hơn (the greater good), nghĩa là một vài giá trị nào đó sẽ mất đi.  Ông quả quyết Hạnh Phúc nhắc nhở là cuối cùng thì thế giới này là thế giới của con người, của các gia đình và của các cộng đồng — của nhân loại đang kiếm tìm một thứ giống nhau.

Người dân Bhutan trước đó cũng sống rất là bình dị. Theo bài báo trên, thì khi chiếc xe jeep đầu tiên đến thủ đô Thimpu, vào thập niên 1960, dân chúng địa phương đã ùa ra chạy theo sau “con rồng biết thở” này; truyền hình mãi đến năm 1999 mới được hợp pháp hóa, và nền dân chủ được nhà vua thiết lập năm 2008.

Để hình thành chính sách phát triển hạnh phúc, hằng năm chính phủ đều tổ chức một cuộc thăm dò, mất nửa ngày để hoàn thành, dân chúng được hỏi thăm dò về việc tiếp cận  các dịch vụ y tế, điện nước, cũng như các hoạt động khác như ngủ nghê, cầu nguyện vv. Những dữ kiện thu thập này sẽ được phân tích và tổng hợp lại để thành chính sách, mà các chinh sách muốn phản ảnh được tính cách của chính phủ và nhân dân Bhutan thì phải theo 4 nguyên lý trụ cột sau đây: bảo đảm tăng trưởng kinh tế, duy trì văn hóa và truyền thống, bảo vệ môi sinh và trị quản tốt (good governance). Thêm vào đó, chính quyền còn ra nhiều tiêu chuẩn khác hướng dẫn chính sách và đường lối. (Cultural Smart! Bhutan, tác giả Karma Choden & Dorji Wangchuck, xb2018). Một chính trị gia đối lập cho biết ông nghi ngờ về việc thực hiện các nguyên tắc quan trọng của GNH. Bhutan hạn chế người ngoại quốc đến đây du lịch vì sợ họ làm ô nhiễm môi sinh cũng như đem vào thói hư tật xấu!  Ngoài ra, hẳn nhiều người đã không quên rằng vương quốc này đã trục xuất cả trăm ngàn cư dân gốc Nepal và Hindu về nước chỉ vì muốn giữ truyền thống dân tộc mình mà không chấp nhận sự khác biệt của họ đối với dân từ xứ khác đến về y phục, ngôn ngữ, tôn giáo.  Có người phê phán GNH là chính sách áp đặt từ trên đưa xuống và mỉa mai GNH là viết tắt của Gross National Harassment!

Mặc dù vậy, nhưng GNH của Bhutan đã tạo hứng khởi không ít.  Liên Hiệp Quốc chọn ngày 20 March mỗi năm làm Ngày Hạnh Phúc Thế Giới (The World Happiness Day), bắt đầu từ năm 2012. Mỗi năm LHQ đều có ấn hành World Happiness Report, số đầu tiên xuất bản tháng Tư năm 2012. Điều khá thú vị khác là đã có vài học giả cho ra đời những quyển kinh tế học Phật Giáo áp dụng giáo lý tôn giáo này để phân tích các hoạt động kinh tế và đưa ra những nguyên tắc hoạt động cho một nền kinh tế có thể đem lại hạnh phúc cho con người trong đời sống kiếp này.

Nghịch Lý Easterlin

Theo thiển ý, triết lý Hạnh Phúc nói trên của Bhutan tuy mới lạ và hấp dẫn, nhưng không phải là động lực chính thúc đẩy các nhà kinh tế học quay trở lại nghiên cứu thêm về GDP, hoặc tìm một phương pháp, công cụ khác để đem lại hạnh phúc/an lạc cho xã hội.  Nhiều tác giả cho rằng chính “nghịch lý Easterlin” đã khiến nhiều nhà nghiên cứu tham gia vào công cuộc đi tìm “cứu cánh mới” của đời sống.  Trong một bài nghiên cứu có tựa đề là: “Does Economic Growth Improve the Human Lot? Some Empirical Evidence” xuất hiện đầu tiên năm 1974 (được in lại trong Happiness in Economics do chính tác giả hiệu đính, xb năm 2002, mà bài viết này đang tham khảo, Richard A. Easterlin, lúc đó đang dạy tại University of Pennsylvania, nghiên cứu kết quả của các cuộc thăm dò về mối quan hệ giữa thu nhập và hạnh phúc của con người trong 19 quốc gia, phát triển lẫn chậm phát triển, từ sau Thế Chiến Hai.  Hạnh Phúc ở đây được gọi là hạnh phúc chủ quan (subjective happiness) sẽ được bàn tới.

Sau đây là một kết quả mà ông tìm thấy để trả lời câu hỏi tự mình đặt ra: Khi thu nhập của một nước tăng trưởng thêm trong quá trình phát triển kinh tế, thì hạnh phúc con người có tăng thêm không?

(1)       Trong cùng một quốc gia, tại một thời điểm nào đó, nhóm người giàu có hơn (tức thu nhập tăng lên) thì hạnh phúc hơn.  Điêu này là sự thật thấy được rõ ràng.

(2)       Cũng trong cùng một quốc gia, vào những thời điểm khác nhau, khi mọi người đều trở nên giàu có hơn, thì họ không thấy hạnh phúc hơn.

Điều này đúng với Hoa Kỳ: Trong vòng 50 năm nghiên cứu, mặc dù thu nhập mỗi người (income per capita) của Hoa Kỳ tăng lên đáng kể, hạnh phúc của họ hầu như không tăng thêm. Chi tiết cho thấy GDP per capita tăng lên, nhưng hạnh phúc trung bình (average happiness) không tăng theo: nó tăng lên trong thập niên 1950, rồi giảm xuống trong 20 năm sau đó, đến năm 1970 lại trở về mức cũ năm 1946. Kinh tế gia Moses Abramovitz gọi đó là “Nghịch Lý Easterlin” (Eaterlin Paradox) và nay đã được quen dùng. Nghịch  Lý này đã khiến không ít người nghi ngờ và nghiên cứu lại vẫn dựa trên những dữ liệu mà Easterlin đã sử dụng cũng như đưa ra thêm những giải thích khác. Đối với Easterlin, thu nhập tuyệt đối (absolute income) đóng vai trò quan trọng đối với hạnh phúc tới một mức mà các nhu cầu căn bản đã được thỏa mãn.  Vượt qua mức đó, thu nhập tương đối (relative income) trở nên quan trọng hơn, nghĩa là khi người ta so sánh thu nhập của những người trong nhóm với nhau.  Một lý thuyết khác cho rằng hoàn cảnh tốt hay xấu đều khiến cho hạnh phúc thay đổi lên xuống đối với một mức hạnh phúc định sẵn nào đó, rồi cuối cùng hạnh phúc mỗi người cũng lại trở về mức cũ đó.  Mức này trong tâm lý học được gọi là “set point”.

An Lạc/Hạnh Phúc Chủ Quan

Hạnh Phúc, khách quan hay chủ quan?

Hạnh Phúc mà Easterlin phân tích ở trên là Hạnh phúc chủ quan (subjective happiness) nghĩa là chính người được phỏng vấn nói ra ý kiến của mình. Hằng ngày chúng ta thường nghe cả hai thứ hạnh phúc chủ quan và khách quan.  Khi chúng ta thấy một cô ca sĩ trẻ tươi cười rạng rỡ trên sân khấu bên cạnh thần tượng của mình, chúng ta nói cô ta trông hạnh phúc quá. Có thể chúng ta chủ quan, nhưng trong Khoa Học Hạnh Phúc, thì sự đánh giá của chúng ta được xem là khách quan và hạnh phúc mà chúng ta gán cho cô ca sĩ này là “hạnh phúc khách quan” (objective happiness). Còn khi chính miệng cô ta nói cô cảm thấy “rất hạnh phúc”, thì hạnh phúc của cô ta là “hạnh phúc chủ quan”.

Học thuyết Utilitarianism trước kia bị lãng quên có lẽ chỉ vì đo lường utility khó quá!   Vào thập niên 1930, khi Sir John Hicks, Lord Lionel Robbins và nhiều người khác tuyên bố rằng utility không thể và không cần nghiên cứu. thì chủ thuyết này không còn được để ý nữa. (Happiness: A Revolutions in Economics. tác giả Bruno S. Frey, xb 2010. Ngày nay với sự ra đời của ý niệm “hạnh phúc chủ quan”, các học giả đưa ra một từ có vẻ trung tính mà có lẽ nhiều độc giả sẽ cảm thấy quen thuộc để thay thế.  Đó là “An lạc chủ quan” (subjective well-being, viết tắt SWB).  Từ đây, người viết xin sử dụng SWB để chỉ subjective happiness mà Easterlin đã dùng.

Xin lưu ý quý độc giả rằng SWB là một ý niệm rất mới lạ và quan trọng, một khám phá lớn của ngành tâm lý học, được kinh tế học du nhập vào để làm phương pháp nghiên cứu mới của mình. Để đo lường SWB (Against Happiness, do Owen Flaganagan và nhiều tác giả khác, xb năm 2003) người phỏng vấn thường sử dụng một trong hai phương cách đưới đây:

Theo cách thứ nhất, người phỏng vấn nói với người được phỏng vấn như thế này: “Nói chung, bạn hãy nói hạnh phúc của bạn như thế nào? — Rất hạnh phúc/ Khá hạnh phúc/ Không hạnh phúc.” Người được phỏng vấn sẽ chọn một trong 3.  Thỉnh thoảng, trước khi phỏng vấn câu trên, người phỏng vấn có thể yêu cầu người được phỏng vấn cho biết xác quyết của mình bằng câu “Bằng ngôn từ riêng của bạn, hãy cho biết chữ “hạnh phúc” có nghĩa là gì đối với bạn.”

Theo cách thứ hai, người phỏng vấn nói: “Xét chung về mọi khía cạnh, bạn hãy nói bạn hạnh phúc ra sao? Xin bạn chọn trong tờ giấy trước mặt có mười một ô, từ 0 đến 10 mà số 0 là cực kỳ bất hạnh và số 10 là cực kỳ hạnh phúc.”.  Cũng có những cuộc phỏng vấn chỉ dung từ 0 đến 6 mà thôi. Thêm vào đó, người phỏng vấn có thể thêm một vài câu hỏi nữa, hay dựa vào các kho dữ liệu sẵn có để kiểm chứng những gì người được phỏng vấn đã nói. Nói chung, phương pháp này cho người được phỏng vấn nhiều lựa chọn, nhưng quả thật sự chọn lựa không dễ gì chính xác, ngay cả ở những người có học vấn cao. Chẳng hạn ở phòng mạch, khi nói về cái đau ở đầu gối, bác sĩ bảo bạn đánh gíá trong mức độ từ 0 đến 10, bạn chọn số con số nào. Nếu bạn đã chọn số 7, thì sau đó, bạn có thể tự hỏi tại số 7, mà không là số 6 hay số 8. Trong 3 số này thì số nào phản ảnh trung thực nhất mức đau của mình?

Những Nghiên Cứu Liên Ngành

Sau cuộc khủnghoảng tài chánh thế giới 2008-2009, mà GDP bị xem như là nghi phạm ẩn mình, Tổng Thống Pháp Nicol Sarkozy đã mời kinh tế gia Pháp Jean – Paul Fitoussi của  Sciences Po,  cùng với hai kinh tế gia Mỹ Amartya Sen và Joseph E. Stiglitz (Chủ Tịch), đều được giải Nobel  về Kinh Tế,  thành lập một ủy ban quốc tế  có tên có tên là “Commission on the Measurement of Economic Performance and Social Progress”  để tái đánh giá các đo lường hiện  hành và đề nghị những phương cách thay đổi.  Ủy Ban này còn có thêm nhiều thành viên tên tuổi từ các tổ chức INSEE, UNDP, OECD, hay từ các đại học danh tiếng như Harvard University (Robert Putnam ngành chính trị học), Princeton University (như Alan B Krueger, Daniel Kahneman – ngành tâm lý học, giải Nobel Kinh Tế 2002).   Kết quả làm việc của Ủy Ban này là bản phúc trình được in thành quyển sách mỏng tưạ đề là Mismeasuring Our Lives: Why GDP Doesn’t Add Up” (xb năm 2100).  Trong Lời Tựa, Tổng Thống Pháp đã khẳng định “Chúng ta sẽ không thay đổi thái độ của chúng ta trừ phi chúng ta thay đổi phương cách mà chúng ta đo lường các hoạt động kinh tế …. Thống kê và kế toán của chúng ta phán ánh các ước vọng của chúng ta, những giá trị mà chúng ta chỉ định ra … Một trong những lý do mà hâu hết mọi người tự thấy mình trở nên bất hạnh hơn (worse off) ngay cả khi GDP đang tăng lên bởi vì họ thực sự bất hạnh  hơn.” (ông trích từ Phúc Trình).  Cuối cùng, Tổng Thống khẩn thiết kêu gọi: “Điều duy nhất sẽ cứu chúng ta là cởi trói đầu óc chúng ta để gom sức mạnh lại thực hiện những thsy đổi cần thiết. Điều duy nhất sẽ cứu chúng ta là cởi trói đầu óc chúng ta để tự giải phóng khỏi chủ nghĩa tuân thuận (conformatism), chủ nghĩa bảo thủ và những quyền lợi thiển cận.

Worldwide levels of happiness as measured by the World Happiness Report (2024)

Source: https://commons.wikimedia.org/wiki/File:World_Happiness_Report_2024.png

 Bản tường trình này nêu ra những vấn đề cổ điển của GDP và đưa ra vài khuyến cáo điều chỉnh; kế đó đưa ra quan điểm về chất lượng đời sống (quality of life) mà bài viết này gọi nôm na là hạnh phúc và an lạc; và cuối cùng kết nối phát triển bền vững và môi trường.  Theo thiển ý, khảo hướng này rất đáng được nghiên cứu chi tiết hơn nhằm cải tiến cách nhìn GDP theo một nhãn quan mới.  Tiếp theo Phúc Trình, Joseph E. Stiglitz, Jean-Paul Fioussi và thêm Martin Durand đã viết thêm “Measuring What Accounts: The Global Movement for Well-being” (xb năm 2019), nghĩa là vẫn còn quanh quẩn với kế toán quốc gia, chưa thể đưa ra một thần dược cụ thể có thể giúp con người đến bến bờ hạnh phúc mà họ theo đuổi. Nhưng nếu càng ngày càng có nhiều người được tạo cơ hội để có việc làm, vật chất no ấm, chỗ ở an ninh, và tâm hồn thanh thản thì các kinh tế gia này nói riêng và môn kinh tế học nói chung đã làm được điều kỳ diệu rồi.

Mặc dù bị còn nghi ngờ về mức độ chính xác, ý niệm về SWB cùng với các phương cách đo lường “chủ quan” nói trên đã được xem là một bước tiến quan trọng trong việc nghiên cứu hạnh phúc con người. Thêm vào đó là sự hình thành của ngành tâm lý tích cực coi trọng hơn việc tạo dựng an lạc hạnh phúc, cũng như sự phát triển của khoa thần kinh học,  máy móc theo dõi hoạt động của bộ óc (thí dụ MRI) cùng thuốc men thích hợp .

Hạnh phúc đã và đang được nghiên cứu liên ngành, được xem như là ngành Khoa Học Hạnh Phúc (Science of Happiness).  Với cách nhìn lạc quan này, nhiều người, trong đó có Richard Easterlin kêu gọi một cuộc cách mạng để tiến tới HẠNH PHÚC! Nghĩa là hãy phất lên ngọn cờ GNH thay thế cho ngọn cờ GDP. Nhưng cho tới đây, chứng ta thấy nếu khắc phục được những thiếu sót đã bàn cũng những khuyến cáo cải tiến ghi trong Phúc Trình và quyển sách tiếp theo của Nhóm Stiglitz, thì chỉ số kế toán cải tiến này sẽ vẫn còn mang nhiều “thành phần” hàng hoá và dịch vụ của GDP, nghĩa là những thứ nuôi dưỡng con người và được tính bằng tiền.  Ngay cả GNH tới nay cũng chỉ là một ý niệm trừu tượng và chưa được tóm gọn thành chỉ số như GDP. Và quốc gia hiện đang giương ngọn cờ GNH không phải là một quốc gia lý tưởng mà ai cũng muốn đến để làm việc hay để sống.  Ý tưởng du nhập đầy đủ cảm xúc và ý kiến của toàn thể nhân dân để hình thành một chính sách công rất là quan trọng trong xã hội dân chủ ngày nay. Nhưng sẽ đến bao giờ chúng ta sẽ chứng kiến được một chính sách tốt trung thực, và được thực hiện hiệu năng và hiệu quả?

Kết Luận

Kinh tế học ra đời với mục tiêu tối hậu là giúp con người không những được an lạc vật chất mà còn an lạc tinh thần.  Tồn tại vài trăm năm nay, nó đã lần lần đem lại ít nhiều đồng thuận về một số nguyên tắc, về công cụ nghiên cứu, nhưng môn “kinh bang tế thế” hay “kinh thế tế dân” này vẫn còn trước mắt nhiều vấn đề cần phải được cải tiến, thậm chí còn có chủ trương phải thay đổi hẳn triết lý cũng như phương pháp. Nếu Paul Revere đã làm tròn sứ mạng của mình trong đêm cưỡi ngựa báo động để rồi Hoa Kỳ có bản Tuyên Ngôn Độc Lập nói lên ý chí của quốc gia tân lập này – life, independencẹ, pursuit of happiness — thì liệu kinh tế gia Richard A. Easterlin có thể thành công hay không khi kêu gọi một cuộc cách mạng về hạnh phúc? Đây quả là câu hỏi lớn mà câu trả lời sẽ đòi hỏi nhiều thời gian.

(PS – Nếu sức khỏe còn cho phép, người viết sẽ tóm lược kết quả một số công trình nghiên cứu về Hạnh Phúc đã được thực hiện trong vài mươi năm vừa qua.)

Lê Văn Bỉnh

Virginia 7/2025

_____________________________________

(*)       Trong các nghiên cứu về Hạnh Phúc và An Lạc, hầu hết các tác giả sử dụng chỉ số kinh tế phổ biến và quen thuộc GDP (Gross Domestic Product) thay vì GNI (Grơss National Income) –cả hai đều tính toán bằng tiền– để chỉ mức giàu có của một quốc gia.  Tựa đề bài viết này dùng GNI chỉ nhằm đối chiếu về hình thức với GNH (Gross National Happiness)  mà đến nay vẫn còn là một ý niệm, chưa trở thành một chỉ số kinh tế.

________________________________________________________________________

Lê Văn Bỉnh

– Tốt nghiệp Học Viện Quốc Gia Hành Chánh (Đốc Sự 10 và Cao Học 2) & University of Southern California (MA in Econ., 1974)

– Chủ Bút Hoài Bão Quê Hương (1999 – 2000) & Hành Chánh Miền Đông (2002 – 2018)

Share your love
Lê Văn Bỉnh
Lê Văn Bỉnh
Articles: 2