
Tốt nghiệp trường Hành Chánh (1971), hắn về Thừa Thiên, được tỉnh đưa về làm việc tại các quận thôn quê, lòng vòng hết quận nầy đến quận khác. Quận cuối cùng trước khi hắn lên cao nguyên là Nam Hòa, một quận, địa giới rất rộng, bao gồm một phần dãy Trường Sơn, mà dân số chỉ độ sáu nghìn. Quận lỵ là chợ Tuần, quận đường là ngôi nhà nhỏ. Ngoài tay quận trưởng trên chi khu (cơ quan quân sự quận) thỉnh thoảng ghé vào, còn lại chỉ có hắn và vài ba nhân viên, mấy cái bàn ghế, một máy đánh chữ… chẳng khác gì một trụ sở ấp. Quận Nam Hòa cách Huế dăm bảy cây số, quận nghèo không có công xa. Tỉnh cấp cho hắn một chiếc xe gắn máy Honda để làm phương tiện đi lại. Quận Nam Hòa và một phần quận Hương Thủy tập trung hầu hết lăng tẩm, chùa chiền của Huế, cảnh trí u tịch, trầm buồn. Lăng Tự Đức, lăng Minh Mạng, lăng Khải Định, lăng Thiệu Trị, chùa Từ Hiếu… Về mùa hè, các cô cậu sinh viên, học sinh tụ tập, sinh hoạt, vui chơi nơi các lăng tẩm, chùa chiền. Lần đầu đi nhận nhiệm sở, tuổi chưa đến ba mươi, hắn cảm tưởng như mình còn là sinh viên, còn tự do, nên thích lang thang vùng ngoại ô để ngăm cảnh và mơ mộng vẩn vơ. Mà Huế thì có biết bao cảnh đẹp tuyệt vời.
Một sáng chủ nhật, hắn lên chùa Từ Hiếu, dựng xe, ngồi tựa vào một gốc cổ thụ, lơ đảng nhìn cảnh thôn quê chung quanh rồi mở một quyển sách ra đọc, thỉnh thoảng gấp sách lại, lắng nghe tiếng chim hót, tiếng chuông chùa ngân nga, vang vọng trong không khí trầm mặc, vắng lặng của chốn thiền môn.
Trong lúc đang mơ màng thì hắn nghe tiếng xôn xao của những cô gái.
– Xe gắn máy của ai mà bỏ ri hè?
Tiếng một cô khác.
– Ai mà bỏ, người ta đi chùa lạy Phật.
– Tụi mình trong đó ra, thấy ai lạ đâu?
– Hay là của các thầy để quên ngoài nầy? Để tao dẫn ra sau chùa.
Biết các cô lầm, hắn vội đứng lên, vòng tay, lễ phép.
– Thưa các chị, xe của em!
Các cô giật mình sợ hãi, nhưng khi thấy hắn, mặt mũi (gỉả bộ) hiền lành nên các cô yên tâm.
– Anh ni (anh nầy). Làm chi ngồi đây, rình ăn trộm chuông chùa phải không?
– Dạ không, em ngồi chơi.
– Chơi với ai?
– Dạ. Em chơi một mình.
Tuy cách đối đáp của hắn không được lương thiện, nhưng các cô ỷ đông nên bạo dạn. Con gái thường e lệ, rụt rè nhưng khi đi đông, họ trở nên bạo dạn, gặp con trai đi một mình thì xúm lại ăn hiếp, chọc ghẹo để vui cười với nhau. Một cô, như là đầu đàn, đứng chống nạnh, làm oai với hắn.
– Núp lén kiểu ni, e có âm mưu chi đây. Anh phải khai cho rõ. Anh tên chi?
Hắn làm bộ sợ hãi.
– Dạ. Em tên Phó Nam Hòa.
– Vợ con để mô (để đâu) mà đi một mình? Có vợ rồi thì về ru con, đừng đi ve gái (chọc gái) mà trời phạt, tội nặng lắm đó nghe!
Hắn biết chắc các cô là sinh viên, học sinh đi picnic cuối tuần nên bạo dạn chọc ghẹo.
– Dạ. Vợ em ở đây.
Cô ngạc nhiên, nhìn quanh.
– Thấy ai đâu? Ai là vợ anh, chỉ coi?
Nghe giọng trong Nam lại thêm vẻ ngơ ngáo của hắn, các cô cười ngặt nghẽo, chỉ tay vào ngực mình, gật gật đầu.
– Em nè!
Hắn cũng giả bộ nhìn từng cô để tìm vợ rồi bất ngờ chỉ vào một cô đẹp nhất trong bọn.
– Dạ. Vợ em đây! Nhưng em chưa biết tên.
Các cô kêu lên.
– Hoa Trang. Hoa Trang!
Cô Hoa Trang mắc cỡ.
– Ba mạ ơi! Mới gặp lần đầu bữa ni mà anh tỏ tình bất tử rứa hè?
Hắn cất tiếng hát, nghe như vịt kêu “Gặp em từ muôn kiếp trước, nhớ em mấy thuở bạc đầu…” Các cô hỏi nhau.
– Con chi kêu rứa hè?
Rồi cười rũ rượi, phá tan cảnh nghiêm trang, tĩnh mịch nơi cửa thiền. Đúng là một buổi sáng vui chơi ngoài trời lành mạnh, đầy tiếng cười. Cả bọn ngạc nhiên khi thấy hắn nhin đăm đăm cô Hoa Trang. Cô cũng nhìn lại và mỉm cười với hắn. Cả bọn reo lên.
– Hai anh chị bị tiếng sét ái tình đánh trúng rồi!
Cô đầu đàn nói với hắn.
– Cám ơn anh đã đóng với tụi nầy một vở kịch vui. Kịch đã hạ màn rồi. Anh có thể đi chỗ khác cho tụi nầy được tự nhiên.
Hắn ngồi lên xe.
– Cám ơn mấy chị, cám ơn em Hoa Trang. Tuần sau mấy chị có đến đây không? Cho em gặp. Được không?
– Chưa biết đi chỗ mô (nơi nào). Muốn gặp Hoa Trang thì nói, chứ gặp tụi ni làm chi. Lần sau, đến đây tụi ni tổ chức lễ cưới cho hai ‘ôn mụ’ (ông bà), là cô dâu Hoa Trang và chú rể anh Phó Nam Hòa si tình.
Một buổi sáng cuối tuần, hắn đang đứng trong nhà sách Ưng Hạ thì tình cờ, cô Hoa Trang bước vào. Cô mặc áo dài trắng như nữ sinh. Hắn mừng rỡ chào cô. Cô đến gần và hỏi.
– Anh đang đọc sách gì vậy?
– Anh đang đọc Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh.
Cô cười hỏi.
– Chuyện ma phải không? Em sợ lắm!
– Vậy là em phải sợ anh. Anh đang là ma đây.
Cô mím môi, làm bộ giận.
– Anh đừng làm em sợ!
Rồi cô hỏi.
– Anh từ trong Nam ra đây làm việc hả? Việc gì vậy?
– Anh làm hành chánh.
– Mấy bạn em cũng có người anh học hành chánh, nhưng đi làm ở Lục tỉnh, trong miền Tây. Thôi, em đi nghe. Em định tìm một quyển sách, nhưng đứng nói chuyện lâu quá! Không tiện.
– Mới gặp em lần đầu mà hình ảnh em cứ ở mãi trong tâm trí anh. Có cách nào cho anh được gặp em lần nữa không?
Cô nhìn hắn mỉm cười. Ngần ngừ một lúc, cô nói.
– Cuối tuần tụi em thường đi chơi trên đồi, dòng Thiên An. Anh lên đó thì gặp.
– Nhưng làm cách nào gặp riêng em?
– Anh chờ bên hông tu viện, em sẽ đến. Không ai biết.
– Cám ơn em. Không hiểu sao. Gãp được em, anh mừng phát run. Em thấy tay anh run không?
Cô thì thầm.
– Dạ, có thấy. Em cũng đang run muốn chết! Thôi. Em về nghe!
– Cho anh chạm vai em. Được không?
Cô ngoan ngoãn.
– Dạ được!
Cô với lấy một quyển sách để vai cô tựa vào người hắn một lúc rồi nói.
– Cho em về!
Khi cô bước ra khỏi nhà sách. Hắn trả sách lại chỗ cũ và cũng ra theo, cách cô một quãng ngắn. Hắn như người mộng du, mắt đăm đăm nhìn tà áo dài tha thước, mái tóc dài phủ bờ vai, dáng đi dịu dàng của cô. Đến cuối đường Trần Hưng Đạo, cô lắc đầu, tỏ ý không muốn hắn đi theo nữa. Rồi cô khuất dạng chỗ ngã rẽ vào đường Phan Bội Châu.
Nhờ lời hẹn. Hễ bọn con gái vui chơi trên đồi Thiên An thì cô Hoa Trang đến với hắn, dù chỉ năm, mười phút. Hai người ngồi bên vách tường đan viện Thiên An, khuất sau những cây thông um tùm, không ai thấy được. Lúc đầu còn e ngại, sau thân thiết hơn. Cô thường tựa đầu vào vai hắn, tay bứt từng cánh lá, thì thầm.
– Em ước được ngồi mãi bên anh như thế nầy, suốt đời.
Hắn cũng thì thầm.
– Cứ ngồi mãi cho đến chết. Phải không?
Cô lắc đầu.
– Em với anh thành tượng đá chứ! Tượng đá rêu phong nhưng không tan rã, không chia lìa.
Hắn ôm cô vào lòng, hôn lên tóc cô.
– Em dễ thương lắm! Anh sẽ yêu thương, lo lắng cho em suốt đời. Anh có viết chút đỉnh. Anh sẽ viết về chuyện hai đứa mình, sau nầy, hai đứa đọc lại, có lẽ vui và cảm động lắm.
– Em cũng có làm thơ. Chẳng hay ho gì nên không cho ai biết.
– Nữ sĩ của anh bút hiệu gì?
– Gì mà nữ sĩ! Tên Hoa Trang. Nhớ nghe! Chỉ riêng anh biết Hoa Trang làm thơ mà thôi.
– Anh nhớ! Khi gặp riêng, anh gọi em là nhà thơ Hoa Trang. Hoa Trang của riêng anh.
Về sau, các bạn biết chuyện hẹn hò của hai đứa nhưng làm như không biết. Nhiều khi cô ngồi hàng giờ với hắn, cho đến trưa, nghe bạn kêu, cô mới vội chạy về.
Không phải cuối tuần nào hai người cũng được gặp nhau sau tu viện, vả lại, mùa hè đã qua, tất cả vùi đầu vào bài vở, còn mùa đông thì mưa tầm tã, chẳng ai đến đó. Hắn đành cùng vài người bạn đứng trước nhà sách hoặc rạp chiếu phim, chờ các cô đi phố để được nhìn thấy cô Hoa Trang. Hai người mỉm cười, vẫy tay chào nhau trong im lặng. Cho đến một hôm, cô đầu đàn đến và nói.
– Chia buồn với anh nghe, Hoa Trang sắp lên xe hoa rồi. Đừng gặp Hoa Trang nữa nghe!
– Thì trước giờ tôi cũng chỉ nhìn thôi!
– Tụi nầy không muốn làm khó, nhưng anh nói chuyện với Hoa Trang là tụi nầy bị vạ lây.
Trong lúc đó, cô Hoa Trang xây lưng lại với hắn, yên lặng chờ các bạn rồi đi tiếp. Từ đó, hắn không còn thấy cô Hoa Trang ngoài phố với chúng bạn nữa. Các bạn cô, có thấy hắn, cũng làm như không có hắn trên đời nầy.
Hắn thấy chán nản và buồn. Càng nhớ cô Hoa Trang hắn càng quyết định rời Huế vì nơi nào cũng hiển hiện hình bóng Hoa Trang. Hắn làm đơn xin đổi lên Cao Nguyên và chờ được thuyên chuyển.
Thừa Thiên, Huế năm nào cũng có bão lụt.
Năm đó bão lụt lớn, ngoài đường nhiều cây cổ thụ đổ ngổn ngang. Quận Nam Hòa, nơi hắn làm việc, thật là bi thảm. Nhà cửa bị gió giật, mái tôn, vách lá bay tứ tán. Bà con bơ vơ, co ro trong mưa lạnh. Đa số đồng bào, trước kia, sống trong các thung lũng trong dãy Trường Sơn, nhưng bị Việt Cộng tịch thu lương thực, bắt đi bộ đội, đi dân công, lại thêm súng đạn hai bên bắn nhau, họ phải chạy về vùng Quốc Gia để lánh nạn. Họ sống thật nghèo khổ, thiếu thốn. Từ ngày về làm phó quận Nam Hòa, hắn thường đến các hội thiện để xin cứu trợ. Hội Thánh Tin Lành, cơ quan Caritas (Công giáo), Hội Hồng Thập Tự Huế, Tổng Hội Sinh Viên Huế. Hắn thường hướng dẫn họ đến các ấp phát tặng thực phẩm, áo quần, khám bệnh, cấp thuốc, đắp đường, sửa nhà cho đồng bào.
Buổi chiều, sau một trận bão, đi làm về, hắn ghé hội Hồng Thập Tự. Anh Nghiên, chủ tịch hội đã chờ sẵn. Cả hai đồng ý sẽ đến các ấp bị nặng nhất trước tiên. Theo chương trình ngày mai, hội sẽ lên làng Đình Môn. Đây là nơi xa nhất, hẻo lánh nhất, nằm cạnh lăng Gia Long.
Sáng hôm đó, xe của hội Hồng Thập Tự đỗ hội viên trước văn phòng quận, rồi đi đò máy ngược lên nguồn hữu sông Hương, lên ấp Đình Môn (lăng Gia Long). Đến trưa thì mưa nặng hột, hắn thúc hối đoàn công tác hoàn tất nhanh công việc rồi lên thuyền về gấp vì nếu chần chờ, nước chảy xiết, rất nguy hiểm. Vì xuôi giòng nên lúc về rất nhanh. Trời u ám, lất phất mưa và gió lạnh. Các hội viên co ro trong áo mưa, chỉ mong chóng về lại Huế nhưng xe của hội đã quay về rồi, đúng hẹn, chiều mới lên đón đoàn. Anh Nghiên, trưởng đoàn, đề nghị đi bộ lên lăng Khải Định tránh gió. Lăng xây tựa vào một ngọn đồi, kiến trúc toàn đá thanh và cẩm thạch, theo kiểu lai căng nửa Âu, nửa Á. Hắn ra chợ Tuần mua bánh mì và đường cho các bạn đỡ lòng. Một bạn khác lấy xe gắn máy của hắn chạy về Huế gọi xe lên đón đoàn. Tuổi trẻ thật hồn nhiên, vừa đói vừa lạnh mà họ vẫn cười nói xôn xao, vui vẻ. Họ bày trò “Hò đối đáp” như trong các đêm lửa trại. Hắn và anh Nghiên ngồi ở góc lăng chuyện trò, không để ý, vì hắn rất quen thuộc trò chơi nầy. Trong lúc các hội viên cười nói thì hắn đứng lên, xin có đôi lời. Mọi người yên lặng, chờ đợi.
– Nhân tiện đây tôi xin thưa với anh trưởng đoàn và các bạn hội viên hội Hồng Thập Tự Thừa Thiên, Huế. Trong thời gian qua hội đã dành nhiều ưu tiên cho quận Nam Hòa. Chính quyền cũng như đồng bào không bao giờ quên tấm lòng vàng của các bạn. Mong các bạn tiếp tục giúp đỡ đồng bào Nam Hòa. Ít lâu nữa, ông phó quận mới đến thay, tôi sẽ giới thiệu ông ta với các bạn.
Mọi người ngạc nhiên, hỏi.
– Anh đi đâu?
– Tôi xin lên Cao Nguyên. Ở hoài một chỗ cũng chán…
– Có phải vì thất tình người đẹp nên bỏ Huế mà đi chớ chi?
– Cứ coi như vậy, cho có vẻ lãng mạn. Người đẹp lên xe hoa rồi! Nhắc lại thêm buồn.
Có người hỏi.
– Người yêu là ai? Cho biết tên được không?
– Tôi cũng định hỏi xem có ai biết gì về cô ta không. Cô tên Hoa Trang.
– Ở đây cũng có Hoa Trang. Hoa Trang mô rồi? Đứng lên, cho “ông Phó” (quận) coi có đúng là người đã bắt hồn, bắt vía ông ta không?
Trong đám đông, một cô đứng lên. Hắn kinh ngạc khi thấy đó là cô Hoa Trang. Hóa ra cô Hoa Trang và những cô vui chơi trên đồi Thiên An đều có mặt trong đoàn cứu trợ. Hắn sững sờ.
– Em ở đây mà anh tìm khắp nơi!
Các bạn im lặng, mắt không rời đôi tình nhân. Hắn bước tới, cô Hoa Trang đưa hai tay ra, chờ đợi. Hắn ôm cô vào lòng. Cô tựa đầu trên vai hắn. Cô khóc. Lúc đầu, cô mím môi tự kìm chế nhưng rồi cô khóc oà. Hắn vỗ nhẹ lưng cô, thì thầm.
– Cám ơn em. Em Hoa Trang của anh. Lâu quá, không gặp em. Anh nhớ em quá mà không biết tìm em ở đâu?
Cô nghẹn ngào.
– Anh ở đây, thỉnh thoảng em còn hi vọng được nhìn thấy anh. Bây giờ, anh bỏ em, anh đi. Nhớ anh, em biết tìm anh ở đâu!
Nhiều cô bạn ứa nước mắt.
Bỗng có tiếng kêu.
– Xe đón đoàn đến rồi!
Mọi người đứng lên, lặng lẽ đi ra cho đôi bạn được tự nhiên. Cô tựa đầu lên ngực hắn, yên lặng. Hắn thì thầm.
– Đi với anh một quãng đường ngắn nữa. Giỏi anh thương!
Cô ngoan ngoãn vịn vai hắn bước xuống tam cấp trước lăng, đến chiếc xe bên vệ đường. Ngồi trên xe, cô vẫn khóc sụt sùi. Cô bạn bên cạnh, ôm vai cô mà không biết nói gì để an ủi bạn. Cô đưa tay ra, hắn đứng dưới đường, cầm lấy tay cô. Người lái xe chờ đến khi họ buông tay ra mới cho xe chạy. Cô vẫy tay.
– Nhớ viết thư cho em. Nghe anh!
Cả đoàn vẫy tay từ biệt hắn. Hắn cũng vẫy tay. Hắn đứng nhìn cho đến khi xe khuất sau rặng cây phía xa, về hướng đồi Thiên An, về Huế.
Tối đó anh Nghiên, trưởng đoàn hội Hồng Thập Tự, đến rủ hắn đi uống cà phê. Anh nói là cả hội đều biết chuyện Hoa Trang và hắn. Nhưng ông bố Hoa Trang, thì ngăn cấm. Ông bảo Hoa Trang còn vài năm nữa sẽ tốt nghiệp bác sĩ, phải lo học. Hình như ông nhắm được một chàng rể tương lai cũng là bác sĩ. Hoa Trang đến hội ngồi khóc và kể “Ba mạ hỏi, em nói thật, ba mạ giận, cấm em không được gặp anh ấy nữa!”
Hắn rời Huế, lên Cao Nguyên làm việc mà hồn vía để cả ở Huế. Nhưng hắn không liên lạc với các bạn ở Huế để biết tin tức về Hoa Trang. Mỗi người đã có một định mệnh. Sợi dây đã bị cắt đứt. Hắn vĩnh viễn mất Hoa Trang.
Rồi mất nước, năm 1975. Sau bảy năm tù Cộng Sản, hắn không về quê mà ở nhờ nhà một người bạn ở Sài Gòn. Hắn mướn một chiếc xích lô, đạp kiếm sống. Có hôm hắn ngủ luôn trên xe. Một thân một mình, hắn sống thảnh thơi, vô tư. Thế rồi có vụ HO tù nhân cải tạo được đi Mỹ (1990), lúc đó hắn lại nghĩ đến Huế, đến cô Hoa Trang. Hắn phải về thăm Huế một chuyến.
Ngồi trên xe lửa gập ghềnh, huyên náo vì tiếng bánh sắt nghiến trên đường ray, tiếng người nói, hắn phân vân, bây giờ Huế ra sao, cô Hoa Trang ra sao?
Đến Huế, hắn vào thành nội thăm người chủ nhà trọ trước đây. Hôm sau hắn dọ hỏi và được biết cô Hoa Trang có mở phòng mạch gần chợ An Cựu. Hắn quyết định đến thăm cô lần cuối. Chiều hôm đó, phòng mạch của cô đông bệnh nhân. Hắn ghi tên vào danh sách khách chờ “Phó Nam Hòa” và lấy một số thứ tự cầm trên tay. Trong lúc chờ đợi, hắn phân vân, lát nữa vô gặp cô Hoa Trang, hắn sẽ làm gì, nói gì? Nếu cô không nhận ra hắn, không nhớ chuyện cũ thì sao? Có lẽ hắn sẽ khai một bịnh vớ vẩn nào đó cho xong. Ngồi suy nghĩ miên man cho đến khi nghe gọi đến số của hắn, hắn đứng lên bước vào phòng mạch. Một người đàn bà mặc áo choàng trắng, đeo kính trắng, hắn đoán là bác sĩ, đang chăm chú viết tên bệnh nhân (tên hắn) vào một mảnh giấy nhỏ, có lẽ là toa thuốc sẽ cấp cho hắn. Hắn vẫn đứng nhưng không dám nhìn mặt cô ta. Hắn mất bình tĩnh mà không hiểu mình đang sợ điều gì?!
– Mời ông ngồi!
Hắn ngồi xuống ghế đối diện.
– Ông bịnh sao đây?
Hắn nhìn thoáng cô ta, cố nhớ lại hình ảnh cô sinh viên ngày xưa để so sánh với cô bác sĩ hiện tại.
– Tôi chỉ cảm sơ sài.
Cô đo huyết áp rồi móc ống nghe vào tai.
– Ông xây lưng lại.
Hắn xoay người, hướng mặt vào vách, lơ đãng nhìn mấy tấm hình chụp cảnh lăng tẩm treo trên vách.
– Ông nói tiếng miền Nam, lại họ Phó? Họ nầy hiếm lắm. Ông ra Huế bao lâu rồi? Ông đi công tác?
– Tôi vừa đến Huế hôm kia. Tôi có họ khác, tên khác, nhưng trước đây, người ta thường gọi tôi như thế. Trước bảy lăm, Thừa Thiên, Huế có nhiều người họ Phó. Mỗi quận có một người họ Phó. Phó quận Nhứt, Phó Quảng Điền, Phó Nam Hòa…
Hắn nói giọng đều đều trong khi cô bác sĩ đè cái ống nghe lên lưng hắn.
– Ông hít mạnh vào… Thở ra từ từ… Không có gì đáng lo.
Như vậy ở Huế có nhiều người họ Phó? Nhưng tôi chưa gặp hay biết ai có họ đó bao giờ.
– Sau bảy lăm, mấy họ đó bị tru di tam tộc rồi, bác sĩ.
– Ông nói chi lạ rứa! Có ai bị tru di gì đâu?
– Tru di từ từ.
– Bây giờ ông quay lại, để tôi nghe ngực ông. Ông có bị ho, bị nóng lạnh, bị tức ngực, đau bụng hay mất ngủ gì không?
Hắn xoay người lại, đối diện với cô bác sĩ.
– Mấy hôm nay tôi bị mất ngủ.
Hắn vẫn không dám nhìn thẳng cô bác sĩ, nhưng hình ảnh cô sinh viên ngày xưa như hiện rõ trên gương mặt cô ta. Đôi mắt vẫn sáng và dịu dàng như trước kia, nhưng làn da mịn trên gương mặt trái xoan đã được tô lên một lớp phấn hồng và cuối mắt, ở khóe miệng đã có những nếp nhăn. Ngực cô ta, dưới chiếc áo choàng trắng, hình như lớn hơn ngực cô Hoa Trang, ngày trước. Ngực cô, ngày xưa, nhỏ, tinh khôi như thạch cao.
– Ông há miệng ra!
Hắn há miệng. Cô bác sĩ nhìn hắn và bỗng nhiên cô buông ống nghe.
– Anh! Anh đến thăm em sao không báo trước? Em có bao giờ nhìn kỹ bệnh nhân của em đâu! Anh thay đổi nhiều quá! Anh chờ em một phút.
Cô ra ngoài phòng khách. Hắn nghe tiếng cô nhỏ nhẹ.
– Tôi có người bịnh cần khám thật kỹ. Bác cảm phiền chờ hơi lâu một chút. Cám ơn nghe!
Câu nói dịu dàng từ ngoài phòng khách khiến hắn bồi hồi. Đúng là giọng nói của người yêu ngày xưa. Nhưng cô Hoa Trang ngày xưa đâu?
Tiếng chân cô bác sĩ đi vào khiến hắn mở mắt ra. Cô ngồi đối diện với hắn, gỡ mắt kiếng đặt lên bàn và nhìn hắn mỉm cười. Nụ cười thân thiện, vui mừng. Hắn bỗng nhận ra là cô bác sĩ nầy và người yêu của hắn khác nhau. Cũng gương mặt đó, nhưng không còn nét ngây thơ, trong sáng của ngày xưa mà thay bằng thái độ chửng chạc của người từng trải. Thời gian, hơn mười năm, đã tách rời hai người. Một cô sinh viên ngày xưa và một người đàn bà ngày nay. Hắn buồn quá. Cô Hoa Trang nhìn hắn.
– Bây giờ anh kể em nghe. Sau khi rời Huế, anh đi đâu? Em có nghe anh lên Cao Nguyên, rồi sao nữa? Ủa! Sao anh buồn quá vậy?
– Xin lỗi bác sĩ. Tôi có người thân vừa mới mất. Bác sĩ có cho phép tôi được khóc trong lúc nầy không?
– Xin chia buồn với anh. Nhưng đời người, ai cũng phải đối diện với điều đó. Có lẽ đó là người thân nhất của anh?
– Tôi chỉ có người thân duy nhất đó thôi. Người đó, có lẽ bác sĩ còn nhớ tên.
– Ôi! Cũng quen với tôi nữa? Anh có thể cho tôi biết tên được không? Vì sao người đó chết?
– Cô Hoa Trang. Đã chết rồi!
Cô ngồi lặng người, nhắm mắt như đang tưởng niệm. Cô đặt bàn tay mình lên tay hắn, thì thầm.
– Đừng anh! Tội nghiệp em! Anh nỡ nào giết chết em. Giết chết Hoa Trang của anh? Sau biến động năm 1975, em đi tìm anh, không thấy anh, em tưởng chỉ hi vọng gặp anh ở kiếp sau. Lúc đó, có lẽ Hoa Trang đã chết thật rồi. Bây giờ gặp nhau, Hoa Trang vẫn còn là của anh.
Cả hai yên lặng. Không gian yên tĩnh lạ thường. Hắn cúi nhìn bàn tay ấm và dịu dàng của cô. Bàn tay của Hoa Trang ngày xưa. Cô vẫn thì thầm.
– Em cám ơn anh vẫn còn nhớ đến Hoa Trang. Người đi xa bao giờ cũng mau quên hơn người ở lại. Thời thế đổi thay, ba mạ em không còn nữa, bạn bè tan tác, chỉ mình em bơ vơ với những kỷ niệm xưa. Nước mất, nhà tan. Tan nát hết cả rồi! Em có về thành phố quê anh để tìm anh, nhưng chẳng ai biết. Sau đó, nghe tin anh vượt biên và gặp nạn, em chỉ biết ra bãi biển ngồi gọi tên anh mà khóc.
Hắn nhắm mắt lại, yên lặng lắng nghe. Bỗng nhiên cô nhoẻn miệng cười, mắt sáng lên như vừa tìm thấy niềm vui.
– Em không ngờ lại được gặp anh. Dù chẳng có gì tươi sáng ở ngày mai, nhưng giây phút gặp lại nhau cũng là hạnh ngộ bất ngờ. Anh nên vui lên đi. Đừng buồn nữa!
Hắn cười thiểu não.
– Tôi mừng cho Hoa Trang. Trong hoàn cảnh bi thảm của miền Nam mà cô được như thế nầy là may mắn lắm rồi. Tôi đến thăm Hoa Trang lần cuối, tháng sau tôi đi Mỹ.
– Anh đi với cả gia đình?
– Tôi chỉ còn bà mẹ. Tôi đi với bà cụ.
– Hôm nào anh rời Huế?
– Vài hôm nữa. Huế buồn quá. Cũng may, có cô Hoa Trang vừa tặng cho nụ cười cũng an ủi.
– Nếu anh ở lại lâu hơn thì Hoa Trang của anh sẽ tặng anh nhiều nụ cười nữa!
Hắn chợt nhận ra. Cô Hoa Trang, người yêu ngày xưa của hắn, không còn nữa. Cô Hoa Trang nầy chỉ là bạn. Tại sao hắn không vui? Hắn vừa có một cô bạn mới. Bao nhiêu năm xa cách. Tình yêu sôi nổi của tuổi thanh xuân đã lắng xuống, chỉ còn tình thân ái đằm thắm và tín cẩn nhau của hai người bạn. Cả hai cùng cười, lòng thanh thản. Cô nói.
– Sáng mai, lúc tám giờ, em mời anh đi điểm tâm với em.
Hắn làm bộ e ngại.
– Ăn điểm tâm hay ăn đòn?
Cô véo vai hắn.
– Không có đâu!
Khi tiễn hắn ra, vì có bịnh nhân nên cô làm nghiêm.
– Sáng mai ông đến sớm, tôi mới có thì giờ khám kỹ hơn. Chào ông!
Ra khỏi phòng mạch, đi được mấy bước, hắn bỗng khựng lại. Hóa ra hắn đã trắng tay. Quê hương, đất nước đã vào tay kẻ thù, sự nghiệp cũng không còn. Hắn ra Huế để tìm người yêu thì người yêu đã thành người bạn. Rồi đây, hắn sẽ lưu lạc đến một xứ sở xa lạ, nơi mà hắn chẳng thể hình dung được nó như thế nào? Nếu không mất nước, hắn không phải đi đâu cả. Trước đây, bao nhiêu sinh viên miền Nam du học, thành tài, đều về với quê hương.
Hắn đi ra phía bờ sông, tìm một thềm đá bên bờ sông An Cựu, ngồi lặng nhìn dòng sông. Buổi chiều vắng vẻ, êm đềm. Hai bên bờ sông không một bóng người, chỉ có hàng cây đang nghiêng mình, soi bóng trên mặt nước. Hắn nghiệm ra, đời hắn và mối tình của hắn, cũng chỉ như giòng nước đang lặng lờ trôi, đã qua rồi thì không có cách nào trở lại được. Hắn nhìn đăm đăm giòng sông và nhớ đến cô Hoa Trang xinh tươi, ngày nào, tay trong tay, đứng giữa rừng thông bạt ngàn trên đồi Thiên An…
Khám bịnh nhân cuối cùng xong, bác sĩ Hoa Trang dắt xe gắn máy ra, khóa cửa phòng mạch. Cô bỗng thấy một chiếc xe đạp dựng ở vách phòng mạch. Có thể của bịnh nhân để quên. Cô chợt mỉm cười.
– Anh chàng nầy, cái gì cũng quên, chỉ nhớ mỗi một mình cô Hoa Trang! Buồn quá, ra bờ sông ngồi thở dài chứ gì?
Cô lấy khóa còng, khóa hai xe vào nhau rồi đi bộ ra bờ sông. Cô đến sau lưng mà hắn không hay biết. Cô đứng chống nạnh, giả giọng miền Nam.
– Ê! Ông kia. Đừng thất tình mà nhảy xuống sông à nghe! Tui sẽ nhảy theo đó!
Hắn quay nhìn. Cô cười.
– Cho em ngồi bên cạnh anh nghe!
Phạm Thành Châu




