Khát vọng Tự do của Tuổi trẻ Việt Nam

Trong lịch sử Việt Nam, mỗi thế hệ trẻ đều mang một khát vọng riêng. Có thế hệ lớn lên giữa chiến tranh và mang khát vọng độc lập dân tộc. Có thế hệ bước ra từ nghèo đói và mang khát vọng cơm no áo ấm. Có thế hệ trưởng thành trong thời kỳ Đổi Mới và mang khát vọng về phát triển kinh tế, về thu nhập cá nhân, gia đình v.v…

Còn tuổi trẻ Việt Nam hôm nay, đặc biệt là thế hệ Gen Z, đang dần mang một khát vọng khác, khát vọng được sống tự do như một con người có phẩm giá, có tiếng nói và có quyền quyết định tương lai của mình. Khát vọng ấy không phải lúc nào cũng được nói thành khẩu hiệu chính trị. Nó hiện diện âm thầm trong cách người trẻ suy nghĩ, học tập, làm việc và nhìn về tương lai của đất nước.

Đây có lẽ là một thay đổi lớn nhất của xã hội Việt Nam hiện nay. Hai chữ “Tự do” ở Việt Nam hôm nay là một khái niệm vừa hiện hữu, vừa giới hạn, vừa được nhắc đến rất nhiều trong diễn ngôn chính thức của nhà cầm quyền, nhưng cũng là điều khiến nhiều người dân, đặc biệt là giới trẻ, vẫn tiếp tục suy nghĩ, tranh luận và tìm kiếm.

Nhiều người trẻ không còn hiểu tự do theo kiểu ý thức hệ của thế hệ cha ông nữa. Họ nhìn tự do qua đời sống thực tế như được chọn nghề mình thích, được yêu người mình muốn, được nói điều mình nghĩ, được sống đúng cá tính, được đi ra thế giới, được tiếp cận thông tin đa chiều, được ít bị áp đặt. Khác với thế hệ trước, giới trẻ ngày nay lớn lên cùng Internet, xem YouTube, TikTok, Netflix, tiếp xúc với văn hóa toàn cầu, thấy cách sống ở Nhật, Hàn, Mỹ, châu Âu. Từ đó, tự tìm một con đường riêng cho chính mình!

Nhiều người trẻ hôm nay không dùng ngôn ngữ chính trị cũ. Họ ít nói: “đấu tranh cách mạng”, “ý thức hệ”, “ba dòng thác cách mạng”, hay “chủ nghĩa xã hội”. Nhưng họ lại sống theo tinh thần tự do nhiều hơn thế hệ trước, muốn tự quyết đời mình, không thích bị áp đặt, muốn bình đẳng giới, muốn được tôn trọng khác biệt, muốn tiếp cận thế giới, muốn được nói thật trên mạng xã hội. Một điều rất quan trọng là mạng lưới toàn cầu đã làm người trẻ Việt Nam thấy rằng có nhiều cách sống khác nhau. Họ nhìn thấy: xã hội mở ở Bắc Âu, kỷ luật ở Nhật, sáng tạo ở Mỹ, dân chủ ở Đài Loan, phát triển công nghệ nhảy vọt vượt bực ở Hàn Quốc. Điều đó khiến khái niệm tự do trở nên gần gũi và thực tế hơn.

Tuy nhiên, phần lớn với tỷ lệ rất cao, giới trẻ hiện nay không muốn đối đầu trực diện với hệ thống. Từ đó, khái niệm “tự do” của họ mang tính cá nhân và đời sống nhiều hơn là cách mạng chính trị. Vì sao? Vì họ nghĩ và họ thấy việc dấn thân chính trị có nhiều rủi ro, thấy tiếng nói cá nhân khó thay đổi hệ thống, và nhất là, ưu tiên của họ nhắm vào việc xây dựng đời sống riêng. Một số chọn đi ra nước ngoài học tập, làm việc cho một công ty quốc tế, sống “tự do bên trong” thay vì đối đầu công khai.

1. Tuổi trẻ thay đổi nhanh hơn hệ thống quản lý đất nước

Tuổi trẻ hôm nay muốn được nói thẳng, được phản biện, được chọn lối sống riêng, được làm việc trong môi trường minh bạch, được đánh giá bằng năng lực hơn là quan hệ “có biết tao là ai không?”. Khoảng cách bắt đầu xuất hiện khi xã hội thay đổi nhanh hơn tốc độ thích nghi của hệ thống chính trị. Điều này tạo ra cảm giác ngột ngạt, bất lực, hoặc “không gian quá chật” ở một bộ phận giới trẻ mỗi khi cần giao tiếp với “chính quyền”.

Hai chữ “tự do” hôm nay có ý nghĩa rất lớn đối với tuổi trẻ. Và có lẽ ý nghĩa của nó đang thay đổi sâu sắc. Ngày trước, “tự do” thường gắn với chiến tranh ý thức hệ, việc chống cộng hay chống tư bản. Ngày nay, với nhiều người Việt, tự do trở thành quyền làm người bình thường, quyền sống không sợ hãi, quyền được tôn trọng phẩm giá, quyền nói thật mà không bị trừng phạt, quyền lựa chọn tương lai cho chính mình.

Quảng cáo SAYMEE mạng Mobilphone, thiết kế dành cho thế hệ trẻ VN – Gen Z

2. Con đường nào cho khát vọng tự do của tuổi trẻ

Lịch sử cho thấy tự do bền vững không thể chỉ được xây dựng bằng phẫn nộ hay phá hủy. Một xã hội tự do cần phải có người dân có dân trí cao, pháp quyền mạnh, tinh thần đối thoại, và văn hóa tôn trọng sự khác biệt. Do đó, điều tuổi trẻ Việt Nam cần có lẽ không chỉ là phản kháng, mà còn là học hỏi, nâng cao năng lực, rèn luyện suy nghĩ phản biện, giữ sự trung thực, bảo vệ sự thật, và xây dựng một xã hội tử tế hơn từ trong chính đời sống hằng ngày.

Nhìn vào Việt Nam hiện tại, câu hỏi của tuổi trẻ hôm nay sẽ là:” Việt Nam tự do có phải là điều không tưởng không?” Không hẳn. Nhưng vấn đề nằm ở chữ:“ Tự do theo cách nào?” Nếu tự do đồng nghĩa với hỗn loạn, trả thù, sụp đổ toàn bộ hệ thống, hay cực đoan ý thức hệ, thì tuổi trẻ sẽ sợ và sẽ tự “cách ly” với xã hội. Nhưng nếu tự do được hiểu là pháp luật công bằng hơn, người dân được tôn trọng hơn, chính quyền minh bạch hơn, báo chí trung thực hơn, quyền con người được mở rộng hơn, dân có tiếng nói hơn, thì rất nhiều người Việt và tuổi trẻ, kể cả một số đông trong bộ máy cầm quyền hiện tại, có lẽ cũng mong điều đó.

Vì vậy, “tự do” trong tâm trí tuổi trẻ hôm nay không còn chỉ là khẩu hiệu chính trị nữa. Nó đang trở thành một nhu cầu được sống thật, được tôn trọng, được nói mà không sợ, được làm người công dân chứ không chỉ là thần dân hay ngu dân! Và có lẽ điều quan trọng nhất là, khát vọng tự do ở Việt Nam hiện nay không chết. Nó đang chuyển từ tiếng hô khẩu hiệu từ bên ngoài đường phố sang những suy nghĩ âm thầm trong lòng xã hội. Và bao giờ khát vọng tự do đó trở thành hiện thực? Không ai có thể biết chính xác “bao giờ”, nhưng lịch sử cho thấy một điều:

Không có khát vọng tự do nào tồn tại lâu dài trong lòng xã hội mà hoàn toàn không để lại dấu vết trên tương lai của đất nước. Vấn đề không chỉ là thời gian. Mà là xã hội đã sẵn sàng chưa, tầng lớp lãnh đạo có đủ tự tin để mở ra không, người dân có đủ trưởng thành để sử dụng tự do không, thế giới chung quanh có tạo áp lực hay cơ hội hay không, và nhứt là tuổi trẻ đã sẵn sàng biến khát vọng tự do thành hiện thực chưa?

Tóm lại, và có lẽ, câu hỏi lớn của tương lai Việt Nam không còn là:“Có tự do hay không?” mà là:“Việt Nam có thể mở rộng tự do đến đâu mà vẫn giữ được ổn định và phát triển?”

2.1 Có những người mơ về tự do chính trị

Có thể nói, hầu hết trí thức, những nhà hoạt động chính trị, luật sư, blogger, cựu đảng viên, sinh viên… vẫn nghĩ đến quyền tự do ngôn luận thật sự, báo chí độc lập, tam quyền phân lập, bầu cử tự do cạnh tranh, xã hội dân sự độc lập, pháp quyền không lệ thuộc một đảng phái nào cả. Cũng như họ tin rằng một dân tộc muốn phát triển bền vững phải có quyền nói thật và quyền kiểm soát quyền lực.

Trong lịch sử Việt Nam hiện đại, nhiều người từng mang lý tưởng ấy, từ các phong trào dân chủ trước 1975 ở miền Nam, cho đến các tiếng nói phản biện ngày nay. Nhưng tại Việt Nam hiện nay, không gian cho loại tự do chính trị này vẫn còn giới hạn, nên nhiều tiếng nói tự do…còn tồn tại trong âm thầm hoặc phân tán mỏng!

2.2 Có những người chỉ mong một đời sống “dễ thở hơn”

Đây có lẽ là số đông. Họ không nghĩ nhiều đến cách mạng hay thay đổi chế độ. Họ chỉ mong luật pháp công bằng hơn, ít tham nhũng hơn, bớt hà khắc hơn, công an bớt lạm quyền, môi trường sạch hơn, báo chí được nói thật hơn, người dân ít sợ hơn khi phát biểu ý kiến. Đối với họ, “tự do” rất đời thường như hơi thở, như được sống tử tế, được làm người lương thiện mà không bị chèn ép, được nói sự thật mà không gặp rắc rối.

Đây là khát vọng âm thầm nhưng rất rộng trong xã hội hiện nay.

2.3 Đảng nghĩ và hiểu “Tự do” như thế nào?

Đảng có nghĩ, nhưng nghĩ theo một cách rất khác. Đảng Cộng sản Việt Nam nhìn và nghĩ về tự do qua lăng kính ổn định, an ninh, phát triển kinh tế và sự tồn tại của hệ thống, tức là Đảng phải “vĩnh cửu”. Nỗi lo lớn nhất của nhà nước là hỗn loạn như thời hậu Liên sô, “cách mạng màu”, cách mạng dù ở Hong Kong, xung đột xã hội, hay mất kiểm soát chính trị. Do đó, nhà nước thường chấp nhận mở cửa kinh tế, mở rộng tiêu dùng, hội nhập quốc tế, nhưng vẫn kiểm soát chặt các tổ chức chính trị, truyền thông, và không gian phản biện. Vì vậy, Việt Nam hiện nay tồn tại một nghịch lý là xã hội ngày càng hiện đại hơn, nhưng không gian chính trị mở ra chậm hơn nhu cầu cấp thiết của xã hội hiện tại.

Về mặt chính thức, Đảng Cộng sản Việt Nam không phủ nhận tự do. Ngược lại, trong Hiến pháp và các văn kiện chính trị, nhà nước luôn “ghi nhận” các quyền tự do cơ bản như:tự do tín ngưỡng, tự do kinh doanh, tự do học tập, tự do đi lại, tự do ngôn luận “theo quy định của pháp luật” (nhưng còn việc tuân thủ hay thi hành các văn bản quy định trong Hiến pháp là một việc khác!). Nhưng điểm quan trọng nằm ở chỗ “tự do” trong cách “hiểu” của nhà nước Việt Nam không phải là quyền tuyệt đối của cá nhân, mà là quyền nằm trong khuôn khổ ổn định chính trị do nhu cầu của Đảng và sự lãnh đạo của Đảng. Nói cách khác, hệ thống hiện nay đặt ưu tiên vào việc ổn định xã hội, an ninh chế độ, đoàn kết quốc gia, phát triển kinh tế. Vì vậy, nhà nước thường xem tự do chính trị đa nguyên, báo chí độc lập, đối lập công khai, hay quyền biểu tình tự phát là những yếu tố có thể dẫn đến bất ổn hoặc bị “kẻ xấu” …lợi dụng.

Đó là lý do vì sao tại Việt Nam hiện nay, người dân có thể khá tự do trong tiêu dùng, kinh doanh, du lịch, học hành, nhưng tự do chính trị và tự do biểu đạt vẫn còn nhiều giới hạn dưới cặp mắt của Đảng.

Có thể gọi đây là mô hình: “mở về kinh tế nhưng kiểm soát về chính trị.”

YBOX.VN: Mạng xã hội thông tin của Sinh viên & Giới trẻ Việt Nam

2.4 Có phải sức “ì” của Đảng làm chậm đi khát vọng tự do của tuổi trẻ chăng?

Có thể nói rằng “sức ì” của hệ thống hiện nay là một trong những yếu tố làm tiến trình mở rộng tự do ở Việt Nam diễn ra chậm hơn so với nhu cầu của xã hội, đặc biệt đối với giới trẻ. Nhưng vấn đề không hoàn toàn đơn giản theo kiểu:“Đảng muốn cản tự do, còn tuổi trẻ muốn tự do.” Thực tế phức tạp hơn nhiều. “Sức ì” của một hệ thống lâu năm là có thật. Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo đất nước nhiều thập niên, đi qua chiến tranh, khủng hoảng, cấm vận, và phát triển kinh tế. Một hệ thống tồn tại lâu như vậy thường hình thành một bộ máy hành chính lớn, văn hóa kiểm soát, tâm lý sợ rủi ro, và thói quen ưu tiên ổn định hơn thay đổi. Do đó, nhiều cải cách về pháp lý, giáo dục, báo chí, xã hội dân sự, quyền công dân thường tiến triển rất chậm. Không hẳn vì mọi người trong hệ thống đều chống tự do, mà vì bộ máy lớn và cằn cỗi thường sợ mất kiểm soát khi thay đổi quá nhanh. Đó là quy luật gần như phổ biến ở mọi chế độ chính trị độc đảng lâu đời.

3. Điều đang thay đổi âm thầm ở Việt Nam

Ngày nay: người dân tiếp cận thông tin toàn cầu, giới trẻ học ở nước ngoài nhiều hơn, mạng lưới toàn cầu phá vỡ độc quyền thông tin, doanh nghiệp cần luật pháp minh bạch, xã hội dân sự dù hạn chế vẫn tồn tại dưới nhiều hình thức.

Ngay cả trong bộ máy nhà nước cũng có thể tồn tại những người hiểu rằng, một xã hội sáng tạo cần không gian tự do hơn, khoa học cần phản biện, kinh tế hiện đại cần pháp quyền, và một quốc gia mạnh không thể chỉ dựa trên kiểm soát và độc đoán. Những thay đổi ấy thường không ồn ào, nhưng vì tích tụ lâu dài, cho nên sự tiến triển hết sức… tiệm tiến.

Đối với Đảng Cộng sản Việt, những lực cản trên rất lớn. Từ đó, khát vọng tự do tại Việt Nam hiện nay vẫn đối diện nhiều nỗi sợ như sợ hỗn loạn, sợ mất ổn định, sợ xung đột như một số nước khác, sợ bị ngoại lực thao túng, sợ trả thù ý thức hệ. Ngoài ra còn có lợi ích của bộ máy quyền lực, lợi ích nhóm, tâm lý quen phục tùng, văn hóa “im lặng để yên thân”, và sự phân hóa trong xã hội.

Cho nên tiến trình thay đổi của Việt Nam hiện tại rất chậm.

4. Từ khát vọng tự do đến tự do thật sự bắt đầu từ đâu? Bao giờ thành hiện thực?

Vietnam Startup 4.0 – Diễn đàn “Doanh Nhân Khởi Nghiệp” tháng 10, 2022

Có lẽ không phải bắt đầu từ thể chế chính trị độc đảng trước tiên, mà có thể bắt đầu khi người dân dám nghĩ độc lập, biết tôn trọng sự khác biệt, biết tranh luận mà không hủy diệt nhau, biết đặt sự thật cao hơn tuyên truyền, và biết xem người có quan điểm khác vẫn là đồng bào. Nếu một xã hội chưa học được điều đó, thì dù thay đổi chế độ, tự do cũng khó bền vững. Nhiều quốc gia đã thay chính quyền nhiều lần, nhưng vẫn rơi vào độc tài mới, dân túy, hay hỗn loạn kéo dài.

Có thể không đến bằng một ngày “bùng nổ”hay “đổi đời”, mà đến khi cường quyền hiểu rằng mở cổng tự do không đồng nghĩa với sụp đổ của độc đảng, mà người dân hiểu rằng tự do đi kèm trách nhiệm, và cả hai phía không còn xem nhau như kẻ thù. Khi đó, tự do sẽ không còn là khẩu hiệu, mà trở thành cung cách xã hội vận hành, cách pháp luật bảo vệ con người, cách người dân đối xử với nhau.

5 . Thay lời kết

Xin trích một đoạn trong bài viết của tác giả Song Chi:”… Không thể kể hết những thành tựu về con người, về văn học nghệ thuật trong 20 năm ngắn ngủi của chế độ VNCH. Đó là bởi vì, dù ngay trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt nhất, chế độ VNCH vẫn cố gắng xây dựng một xã hội bình thường. Trẻ em vẫn được sống hồn nhiên đúng lứa tuổi, không bị nhồi nhét lòng căm thù quá sớm, vẫn được dạy dỗ từ những điều nhân ái nhỏ nhặt hàng ngày, sách, báo, truyện, nhạc dành cho thiếu nhi, thiếu niên, tuổi mới lớn từ truyện tranh, truyện cổ tích thế giới, tuần báo Thiếu Nhi, tuần báo Tuổi Ngọc, tủ sách Tuổi Hoa – Hoa Đỏ, Hoa Xanh, Hoa Tím… chỉ toàn dạy điều thiện, dạy thương yêu, dạy sống tử tế, không có một chút gì vẩn đục bởi lòng căm thù địch – ta, lý thuyết cách mạng nọ kia…

Thanh niên vẫn có khung trời dành cho tình yêu lãng mạn mộng mơ trong sáng và những lý tưởng, hoài bão lớn; trí thức vẫn được đọc được nghe đủ loại báo đài quốc tế, viết, tranh luận về đủ loại triết học Đông – Tây, đủ loại lý thuyết chính trị kể cả học thuyết Mác Lenin, tư tưởng của Mao…

Chế độ VNCH đã không biến cả xã hội thành trại lính, trong đó tất cả chỉ được phép suy nghĩ một chiều, mọi tình cảm, cảm xúc cá nhân, mọi suy nghĩ khác, mọi tự do đều bị kìm hãm, cấm đoán triệt tiêu; ngược lại, con người vẫn được sống như là con người, ai chiến đấu cứ chiến đấu, ai làm thơ, nhạc lãng mạn cứ làm, ai mơ mộng suy tư cứ mơ mộng, có lẽ đó cũng là một trong những lý do mà chế độ VNCH đã thua. Nhưng bù lại, chế độ đã để lại cả một di sản văn học nghệ thuật và dòng chảy đó ít nhất vẫn không chết yểu mà vẫn âm thầm tồn tại trong nước và phần nào được tiếp nối ở hải ngoại 50 năm qua.

Xã hội Việt Nam bây giờ đã hơn 50 năm trong thời bình. Bề mặt của nhiều thành phố, tỉnh thành đã thay đổi rất nhiều. Số người giàu hơn ngày xưa cũng nhiều, thậm chí phải nói là giàu kinh khủng, một ông cán bộ cấp huyện cũng còn giàu hơn cả tướng tá VNCH thời xưa và cách nhiều người xài tiền có lẽ ngay dân Mỹ cũng choáng.”

Tại sao Việt Nam hiện tại không làm được như Việt Nam Cộng hòa trong suốt 20 năm chiến tranh Quốc – Cộng tàn khốc, 1955 – 1975?

Vì vậy,

Khát vọng tự do ở Việt Nam hiện nay giống như nước ngầm dưới lòng đất, không phải lúc nào cũng nhìn thấy, đôi khi tưởng đã biến mất, nhưng vẫn âm thầm chảy. Một ngày nào đó, nó có thể trở thành một dòng sông lớn. Nhưng điều quyết định không chỉ là áp lực từ trên hay từ dưới, mà là người Việt có học được cách sống tự do mà không hận thù, không cực đoan và không tự hủy lẫn nhau. Và nguy cơ lớn nhất không phải là sự đối kháng mà là làm mất niềm tin.

Tuổi trẻ hiện nay không còn quá tha thiết với ý thức hệ. Điều họ quan tâm nhiều hơn là: cơ hội công bằng, môi trường sống, phẩm giá cá nhân, và tương lai. Nếu họ cảm thấy tiếng nói của mình vô nghĩa, luật pháp thiếu công bằng, tài năng không được trọng dụng, phản biện bị xem là nguy hiểm, thì điều dễ xảy ra nhất không phải nổi dậy, mà là thờ ơ, rút lui, hoặc rời khỏi đất nước. Đây mới là điều đáng suy nghĩ cho tương lai Việt Nam.

Làm sao để có thể dung hòa giữa khát vọng tự do của tuổi trẻ và việc gìn giữ sự ổn định thể chế của Đảng?

Vietnam, Gen Z

Có lẽ đây là bài toán lớn nhất của Việt Nam trong vài thập niên tới, nghĩa là làm sao mở rộng tự do mà không rơi vào hỗn loạn? Làm sao giữ ổn định mà không bóp nghẹt sức sống xã hội? Nếu hệ thống không thay đổi đủ nhanh, nó có thể tụt lại sau xã hội. Nhưng nếu xã hội thay đổi quá cực đoan, nó cũng có thể tạo ra đổ vỡ lớn. Do đó, điều quan trọng có lẽ không phải: “ai thắng ai”, mà là: “Việt Nam có xây dựng được lòng tin giữa nhà nước và tuổi trẻ hay không?”

Có thể nói: sức ì của hệ thống đang làm chậm phần nào khát vọng tự do của tuổi trẻ Việt Nam. Nhưng đồng thời, tuổi trẻ Việt Nam cũng đang thay đổi xã hội theo cách âm thầm qua giáo dục, công nghệ, tư duy toàn cầu, tinh thần cá nhân, và nhu cầu sống thật hơn. Cuộc chuyển động ấy có thể chậm, nhưng rất khó đảo ngược. Vì một khi tuổi trẻ đã quen suy nghĩ bằng chính đầu óc của mình, thì khát vọng tự do sẽ luôn tồn tại, dù không phải lúc nào cũng được nói thành lời.

Khát vọng tự do của tuổi trẻ Việt Nam hôm nay có thể không còn mang hình ảnh của những cuộc xuống đường ồn ào hay những khẩu hiệu đầy đối kháng cực đoan như trong quá khứ. Nhưng điều đó không có nghĩa là nó yếu đi. Ngược lại, nó đang trưởng thành hơn, thâm sâu hơn, và thực tế hơn.

Người trẻ Việt Nam hôm nay muốn được sống bằng năng lực thật, được tôn trọng nhân phẩm, được quyền chọn lựa tương lai, được nói lên suy nghĩ của mình và được góp phần xây dựng đất nước bằng trí tuệ thay vì sự phục tùng. Đó chính là một hình thức tự do rất căn bản và rất bền vững. Họ có thể khác nhau về quan điểm chính trị, cách sống hay lựa chọn tương lai, nhưng phần đông đều gặp nhau ở một điểm, mong cho Việt Nam trở thành một đất nước văn minh hơn, công bằng hơn và đáng sống hơn.

Con đường đi tới một xã hội tự do có thể còn dài. Sẽ có những bước tiến chập chững, hay những lùi lại, thậm chí những thất vọng tràn trề. Nhưng lịch sử cho thấy: một dân tộc mà tuổi trẻ còn biết suy nghĩ độc lập, còn biết đặt câu hỏi, còn biết mơ về một xã hội tốt đẹp hơn, thì dân tộc đó chưa bao giờ mất tương lai. Và có lẽ, điều đẹp nhất của khát vọng tự do nơi tuổi trẻ Việt Nam hôm nay là họ không chỉ muốn tự do cho riêng mình, mà còn muốn một Việt Nam mạnh hơn, tử tế hơn, và nhân bản hơn cho cả các thế hệ mai sau.

Có lẽ còn một điều rất quan trọng cần nói thêm là Tuổi trẻ Việt Nam hôm nay đang đứng giữa hai ngả đường, một bên là di sản của quá khứ với chiến tranh, ý thức hệ, chia rẽ và nỗi sợ bất ổn, và một bên là tương lai của một thế giới mở, nơi hơi men tri thức bừng dậy, tinh thần sáng tạo và phẩm giá con người trở thành sức mạnh thật sự của quốc gia.

Chính vì vậy, khát vọng tự do của thế hệ trẻ Việt Nam không nhất thiết phải mang màu sắc đối đầu.  Nó có thể bắt đầu rất giản dị từ việc học cách suy nghĩ độc lập, biết tôn trọng sự thật, dám sống trung thực, biết phản biện mà không hận thù, biết yêu nước mà không cực đoan, và biết đặt lợi ích lâu dài của dân tộc lên trên những chia rẽ quá khứ. Nếu nhìn một cách bình tĩnh và thực tế, có thể nói rằng một phần của bộ máy quản lý hiện nay, do sức ì, tâm lý sợ thay đổi và cơ chế kiểm soát lâu năm, đang làm chậm lại nhu cầu tự do và sáng tạo của tuổi trẻ Việt Nam.

Nhưng câu hỏi quan trọng hơn là tuổi trẻ nên làm gì để thúc đẩy tương lai tự do nhanh hơn mà không đẩy đất nước vào đổ vỡ? Đây mới là bài toán lớn.

Nếu tuổi trẻ Việt Nam muốn khát vọng tự do đến gần hơn, thì có lẽ con đường bền vững nhất không phải là phá hủy, cực đoan hay hận thù. Mà là nâng cao dân trí, xây dựng xã hội tử tế, bảo vệ sự thật, học cách đối thoại văn minh, phát triển năng lực cá nhân, và từng bước tạo ra một nền văn hóa tự do từ chính đời sống hằng ngày.

Image by Dieu-Huyen-Hoang on Unsplash.com

Bởi cuối cùng rồi, một đất nước tự do không thể chỉ được tạo ra bởi vài lãnh tụ hay một biến cố chính trị. Nó phải được tạo ra bởi hàng triệu con người biết suy nghĩ độc lập, sống có trách nhiệm và không còn sợ hãi trước sự thật. Khát vọng tự do của tuổi trẻ Việt Nam hôm nay có thể không bùng cháy dữ dội như những cuộc cách mạng trong lịch sử. Nhưng nó đang lan rộng âm thầm trong suy nghĩ, trong giáo dục, trong công nghệ và trong cách sống của cả một thế hệ. Có thể tiến trình ấy còn chậm. Có thể sẽ còn nhiều va chạm giữa khát vọng xã hội và sức ì của cơ chế hay hệ thống chính trị. Nhưng lịch sử nhân loại cho thấy, không một xã hội nào có thể mãi đứng yên khi cả một thế hệ trẻ bắt đầu suy nghĩ độc lập và khao khát được sống với phẩm giá của con người tự do.

Và có lẽ, hy vọng lớn nhất của Việt Nam hôm nay nằm ở chỗ thế hệ trẻ không chỉ muốn tự do cho riêng mình, mà còn muốn xây dựng một đất nước tự do hơn, nhân bản hơn và tử tế hơn cho tương lai dân tộc.

Mai Thanh Truyết

Con đường Việt Nam

Houston – Tháng 6 – 2026

Share your love
Mai Thanh Truyết
Mai Thanh Truyết
Articles: 6