Sài Gòn còn mưa bay không em?

Tôi ghi những dòng này vào tháng Giêng 1999 dưới cái nắng đổ lửa của Sài Gòn, nhưng chẳng nghĩ gì đến nắng mưa mà chỉ nhớ về hơn 10 năm trước, khi rời nhà tù Z.30A để gia nhập cuộc sống bên ngoài.

Thuở đó, tôi thường nghe một câu trả lời về cách mưu sinh như sau:

– Nghề ngỗng của tôi hả? Nghề thất kinh, ông ơi!

Lần đầu nghe câu trả lời, tôi thất kinh vì sự ngu dốt của mình. Tôi từng lăn lóc nhiều năm khắp các miền đất nước sao lại ngu tới mức không biết “nghề thất kinh” là nghề gì.

Nêu thắc mắc với vài người bạn thì được trả lời: “Hãy đợi đó! Đến hẹn lại lên!”

Câu trả lời rõ ràng là ấm a ấm ớ. Nhưng không chỉ cái tên “nghề thất kinh” khiến tôi thắc mắc, vì hàng ngày tôi còn nghe cả loạt tên nghề chưa hề có nơi danh mục nghề nghiệp trên thế giới. Tôi chắc khó có người xứ nào được nghe các tên “nghề lủng lẳng, nghề cù cưa, nghề níu kéo, nghề xin đểu, nghề vợ thuê …” Dù chưa từng ra khỏi Việt Nam, tôi vẫn nói như đinh đóng cột rằng tại các quán ăn hay trên hè phố ở các đô thị London, Paris, New York, Berlin… không thể có các câu đối thoại thế này:

Tay đó chuyên nghề lủng lẳng thì lọt vào mắt xanh con nhỏ sao nổi.

– Bộ con nhỏ đó thì hơn gì?

– Hơn chớ, nó vừa nhập nghề vợ thuê. Tui dám cá là con nhỏ sắp láng bóng cho coi. Thành dân quí phái mấy hồi!

Hoặc:

Coi chừng mấy đứa hành nghề xin đểu. Giếm kỹ các thứ trong người đi, các cụ!

– Tụi nó sức trâu vậy mà sao không chuyển sang nghề cù cưa cho mau phất nhỉ?

– Dễ gì! Muốn nhập nghề cù cưa cần có bằng cấp hoặc bộ vó sinh viên mới duyệt!…

Tôi may mắn hơn bất kỳ người xứ nào vì hàng ngày luôn nghe đối đáp như thế và còn được gặp gỡ, trò chuyện với chính người đã hoặc đang hành các nghề như thế. Tôi cũng may mắn không cần chứng minh tính xác thực vì báo chí Việt Nam đã loan hoài tên các nghề đó.

Và, khi nghe các đối đáp trên, tôi luôn nhớ về một cảnh lập lại nhiều ngày tại trại tù K.3 dưới chân núi Chứa Chan.

Sau 30-4-1975, Sài Gòn đổi tên là “thành phố Hồ Chí Minh” và đã có một bài ca với lời ca đầy tự hào “Mùa Xuân trên thành phố Hồ Chí Minh quang vinh… Ôi đẹp biết bao… Vui sao nước mắt lại trào…!” Bài ca đưa vào các trại tù và tại trại K.3, tù nhân trẻ Hải Xẹp cùng phòng giam với tôi, luôn dựa lưng vào vách, lim dim mắt hát như gào cho bên ngoài có thể nghe trong lúc kéo dài mấy lời cuối: “Vui sao nước mắt lại trào…Vui sao nước mắt lại trào…!”

Bài ca trở thành trò giải trí của đám tù hạng ba hạng tư, tức loại tù hạng bét.

Ở trại tôi, mấy loại tù này chỉ được mỗi tháng 3 kí gạo vào khi có gạo và không có thăm nuôi nên đói thường xuyên. Đói thì ôm bụng nhăn nhó vẫn đói nên nghêu ngao cho qua với thứ thuốc cứu đói là bài ca. Cách tự cứu đói này khiến nổi lên với tôi câu hỏi về đời sống Sài Gòn và cả nước sau ngày 30-4-1975. Tôi không tìm lời giải nhưng khi rời nhà tù đã tự bày trò sưu tập tin tức, hình ảnh… về đời sống.

Trò này suýt mang họa cho tôi năm 1989, khi tay công an khu vực bất ngờ vào nhà, đi thẳng tới chiếc bàn kê ở góc phòng. Anh ta vồ lấy đống báo tôi cắt dán, tra vấn dồn dập:

– Ai cho làm việc này?

– Cắt dán những thứ này làm gì?

– Lấy tiền ở đâu để mua keo?….

Loạt câu hỏi tuôn ra như đạn AK.

Nhưng tôi đang mang áo giáp nón sắt vì mọi thứ đều từ báo chí nhà nước.

Tôi nhớ tới bạn tù Hải Xẹp khi cán bộ hỏi về lý do hát mãi bài hát kia. Lúc đó, Hải Xẹp đã tạo bộ mặt đưa đám giải thích là “sự  tỏ lòng kính yêu đối với Bác!” Lập tức tôi cũng lấy giọng đưa đám ngày nào của Hải Xẹp, nói “dù đã ra trại, tôi vẫn cần “học tập” nên phải giữ các bài viết từ báo chí nhà nước, còn keo dán và giấy tờ là các thứ lượm khi đi bới rác.”

Tất cả đều trong sáng!  Không bắt bẻ được, tay công an gầm gừ:

– Truyền đời cho hay đừng có mưu đồ láo lếu. Tôi mà bắt gặp có trò gì bậy bạ thì biết tay.

Tôi nhẩm thầm câu nói cửa miệng của đám tù khi còn ở trại tù:“Chuyện nhỏ! Đừng ồn!” Dù vậy, tôi cũng vứt những gì đã cắt dán và ngưng cắt dán dù khó thể bỏ thói quen đọc báo. Tôi đọc bằng nhiều cách, qua các mảnh giấy gói đồ, qua các đống ve chai hoặc đọc ké ở đâu đó.

Tôi tự nhủ “Không cắt dán thì ráng nhớ.”

Tôi nghĩ ký ức của tôi không tệ lắm so với thời con nít ở Hà Nội. Thuở đó, tôi tối ngày chỉ lăn vào trò vung múa tay chân, nhưng thầy giáo và các bạn lại ban cho danh hiệu chăm chỉ. Lý do là tôi luôn trả bài thuộc lòng. Trên thực tế, tôi chỉ mở sách nhìn vào bài lúc đi bộ từ nhà tới trường và chẳng hiểu sao có thể trả bài trơn tru thế.

Cuối thập niên 1980, hẳn tôi khó giữ nổi ký ức thời con nít, nhưng vẫn nhớ khá nhiều chuyện cũ từ thiên đường vô sản Nga do một người dường như có tên Pirogov — tôi không nhớ rõ — ghi trong tác phẩm Why I escaped? mà tôi từng đọc khoảng đầu thập niên 1950.

Pirogov là phi công với danh hiệu “Anh hùng Hồng Quân Liên Xô” từng được vinh dự bay biểu diễn trên Công Trường Đỏ Moskva vào các dịp kỷ niệm Cách Mạng Tháng Mười dưới thời Staline. Pirogov kể lại sau đệ nhị thế chiến, nhiều “vị anh hùng” bị rời quân đội phải gia nhập đám thất nghiệp lêu bêu khắp nước Nga. Trong đám thất nghiệp thì những vị này may mắn hơn nhờ danh hiệu “anh hùng.”

Đây là lý do khiến một bạn thân của Pirogov cũng được phong “Anh hùng Hồng Quân Liên Xô” kiếm được việc làm tại một Sở Thú ở thủ đô Moskva sau hơn hai năm trôi giạt.  Bạn này kể lại với Pirogov là sau khi vượt qua khâu nghiệm xét lý lịch căng thẳng, anh phải đáp ứng một loạt đòi hỏi như “tới Sở sớm hơn giờ làm, ra về trễ hơn, không nghỉ cuối tuần, không nghỉ lễ, nhất là tuyệt đối cấm tiết lộ chi tiết nào về việc làm với bất kỳ ai kể cả vợ con…”

Anh coi mọi đòi hỏi đó như pha trước niềm vui có việc làm nên ký cam kết ngay.

Thủ trưởng cơ quan cho biết anh sẽ “được vinh dự đặc biệt” nhận một nhiệm vụ quan trọng như “một bí mật quốc gia.” Rồi, anh được dẫn vào chuồng gấu, được trao bộ da gấu để choàng lên người và được chỉ dẫn cách tự biến thành gấu.

Thói quen vùng vẫy giữa trời cao khiến anh ngột ngạt khi phải chui vào bộ da gấu, ngồi trong khung chuồng hẹp cho đám trẻ nít xúm lại trêu chọc. Nhưng anh tự an ủi là ít vất vả hơn thời lêu bêu trôi giạt. Vả lại, Sở Thú tại thủ đô Moskva sẽ nhờ anh mà được tự hào sánh vai bất kỳ Sở Thú nào trên thế giới để tô đẹp chế độ và đất nước.

Chỉ có điều chuồng gấu nằm cạnh chuồng cọp khiến anh luôn lo sợ và run bắn người khi tưởng tượng cánh cửa thông sang chuồng cọp không đóng kỹ.

Không dè mối lo của anh thành sự thực!

Một bữa, nhân viên quên đóng cửa này và khi anh phát giác thì con cọp đã lù lù giữa khung cửa. Anh kinh hãi lui sát góc chuồng lúc con cọp lừng lững tiến qua. Lưỡi anh ríu lại không phát nổi lời kêu cứu, dù lúc đó anh quên béng mình đang đội lốt gấu, quên luôn cam kết không lộ tông tích bất kỳ trường hợp nào.

Anh run rẩy chờ  phút cuối đời đến theo từng bước chân con cọp.

Khoảng cách thu ngắn dần trong lúc anh lạc hồn vì chiếc đuôi liên tục ngoe nguẩy của con ác thú đang bước tới. Anh không còn thấy gì ngoài con cọp mỗi lúc một lớn hơn và khiếp hãi với ý nghĩ nó sắp chụp thẳng lên đầu anh.

Con cọp dừng lại khi tới cách anh chỉ vài bước. Và, anh bỗng nghe một hơi thở dài, rồi một giọng thì thào: “Đừng sợ! Đồng chí ở đâu tới?”

Thì ra con cọp đó cũng là đồng chí của anh! Tôi nhớ lại chuyện này khi đọc bản tin Viện Hải Dương Học Nha Trang nhận quà tặng Trời ban là một cặp hải cẩu.

Hải cẩu là hoang thú ở Bắc Cực nhưng hai con bị hải lưu cuốn trôi tới bờ biển Việt Nam.

Ngày 21-5-1998, một con sa lưới của ngư dân xã Bình Thuận, Bình Sơn, Quảng Ngãi cách cửa Sa Cần 17 hải lý.

Ngày 17-6-1998, một con do ngư dân thôn Đức Thuận, Bố Trạch, Quảng Bình bắt cách cửa sông Lý Hoà 15 hải lý.

Viện Hải Dương Học Nha Trang lập tức nổi tiếng vì có một cặp vật lạ từ Bắc Cực. Giữa cơn sốt theo dõi cúp bóng đá thế giới France 1998, nhiều người vẫn tìm tới Nha Trang để được nhìn tận mắt coi hải cẩu như thế nào. Nhưng báo chí lại kể về mối lo của nhân viên Viện này.

Theo chuyên gia Pháp Jean Paul Alayse đang có mặt tại đây thì không cần tạo môi trường lạnh cho cặp hải cẩu do chúng đã quen biển nhiệt đới khi bị cuốn theo hải lưu. Tuy nhiên, lấy đâu ra tiền để lo thức ăn cho chúng?

Báo chí nhắc lại số phận con cá heo do chuyên gia Liên Xô mang từ Hắc Hải sang tặng Viện này đã chết xình trong hồ chỉ sau một thời gian ngắn. Khi các chuyên gia mổ xác con cá để tìm hiểu lý do thì thấy trong ruột nó toàn bịch ni-lông và bã mía.

Mối lo về số phận cặp hải cẩu nhắc tôi nhớ ngay chuyện Pirogov kể.

Tôi bỗng nghĩ lẩn thẩn rằng nếu cặp hải cẩu không thể kéo dài cuộc sống bằng bịch ni-lông và bã mía thì thịt của chúng chắc vẫn là món ăn quí cho người có cơ hội chia xẻ và da của chúng nếu đủ che kín thân người thì Viện Hải Dương Học Nha Trang vẫn giữ nguyên thành tích có cặp vật lạ từ Bắc Cực mà còn có dịp trao vinh dự đặc biệt cho hai “vị anh hùng” nào đó.

Ngay tại Moskva, thủ đô thành trì cách mạng vô sản thế giới, người và vật còn hòa làm một trong màn xiếc hóa thân được cả nước tự hào thì với một cơ sở nhược tiểu quốc cỡ Viện Hải Dương Học Nha Trang  rõ ràng chỉ là chuyện nhỏ. Ngoài ra, ngay các “vị anh hùng” của thành trì cách mạng vô sản thế giới vẫn thấy sự đội lốt hoang thú là vinh dự trên đường kiếm sống thì chẳng nghề nào đáng chê hết. Dù vậy, cái tên “nghề thất kinh” vẫn trở lại với tôi và gợi lên hàng loạt hình ảnh không do tôi cắt từ báo chí mà do bản thân từng trải.

Tôi nhớ một bữa hơn mười năm trước, khi Nguyễn Kinh Châu, đại diện báo Sóng Thần tại Huế thuở nào, cùng một người bạn lén tới chùa Pháp Hoa kiếm tôi đang bị thi hành án quản chế tại đây. Anh vỗ vỗ tay vào túi quần, ra dáng ta đây có tiền và nhắc:

– Đi kiếm quán phở !

Ba chúng tôi đi bộ ra cầu Trương Minh Giảng sang phía ngã ba Kỳ Đồng. Hè đường lủng củng đủ các gánh hàng mía ghim, bún ốc…nên chúng tôi phải đi xuống lòng đường.

Chúng tôi vừa đi vừa trò chuyện và một thoáng tôi bỗng thấy một khối đen lao thẳng vào mình. Nửa ngực bên phải tôi lãnh một cú đập như trời giáng khiến tôi bị hất xoay bật đi.

Rất may tôi kịp giữ mình không té vật xuống đường. Giữa khoảnh khắc đó, một chiếc xe Lam vụt ghé vào lề đường ngay sau lưng tôi để đón khách. Tài xế nghiêng người kéo một hành khách lên xe rồi xe lao vút đi. Anh ta không thèm nhìn lại coi nạn nhân của anh ta ra sao.

Chiếc áo do một người bạn tặng tôi hôm trước xoạc từ vai xuống ngang thắt lưng và ngực tôi in hằn vết đập của cạnh khung xe Lam, đau ê ẩm.

Nguyễn Kinh Châu ngắm tôi rồi bình luận: “Thất kinh chưa!”

Tôi ôm ngực theo bạn vào tiệm phở và từ đó bắt đầu hiểu lờ mờ về hai tiếng “thất kinh.”

Mấy tháng sau thì chính tôi cũng thành thạo với cách trả lời câu hỏi “đang làm gì?”

Nghề thất kinh!

Không ai cần lời giải. Mấy tiếng “nghề thất kinh” cứ ném ra và ai muốn hiểu sao thì hiểu!

Tôi kiếm được chân đan mành trúc cho một nhóm gia công ở khu Chùa Miên, Trương Minh Giảng. Nơi làm việc là gian nhà sàn trên bờ kinh Nhiêu Lộc.

Tôi luôn phải bì bõm vượt đoạn đường ngập nước xình tới đầu gối, mò mẫm bước theo mấy tấm ván nhỏ để tới nơi làm việc xặc mùi hôi thối xông lên từ con kinh nhầy nhụa bùn đen không ngừng bị khuấy bởi đám trẻ nít bới lượm bọc ni-lông và toát ra từ chính thân thể dính nước xình của mình.

Tôi tới chỗ làm lúc 7 giờ sáng, ngồi đan tới 12 giờ trưa. Nghỉ nửa giờ, ăn một khúc bánh mì rồi tiếp tục đan tiếp tới 6 giờ chiều. Chấm dứt buổi làm, tính tiền công trừ khúc bánh mì, dư một khoản đủ mua ba điếu thuốc lá lẻ. Bữa ăn chiều thì sao?

Nói theo cách các viên chức nhà nước đương thời mà tôi được nghe nhiều lần thì chuyện đó “thuộc phạm vi trách nhiệm cá nhân đối với bản thân.” Tôi đang bị quản chế nhưng vẫn có bạn lén ghé qua nhòm ngó nên không hãi lắm. Thêm nữa, tôi vừa rời trại tù nên còn giữ thói quen “khắc phục” đi nằm với cái bụng lép.

Ít lâu sau, khoảng 1989 tôi thoát cảnh bị cô lập, được trở về với gia đình và được một người bạn cho chiếc xe đạp nên có thể mở rộng không gian, giã từ nghề đan mành trúc. Tôi đổi qua nghề bỏ mối thêu là món hàng đang ăn khách vì được người từ nước ngoài về chiếu cố.

Tôi nhớ một xấp vải thêu giá từ 10 tới 20 ngàn với công thêu từ 1 tới 2 ngàn, tùy mẫu và tay nghề. Việc của tôi là tới nhận hàng đi giao cho thợ thêu.

Thợ thường ở các vùng xa trung tâm thành phố và do người giao hàng tự kiếm.

Mỗi ngày, tôi đạp xe ngược lên Cát Lái, vòng về Thủ Thiêm, xuôi xuống Bà Quẹo, Hóc Môn, băng qua Gò Vấp… la cà vào các con hẻm sâu hút, hỏi thăm chỗ nào có thợ thêu thì tìm tới bàn tính giá cả. Giao được một món hàng, tôi phải trở lại nhận về vào tuần sau để trả cho cơ sở. Hoàn tất êm xuôi và việc thêu đạt tiêu chuẩn, tôi sẽ hưởng 10 phần trăm tổng số tiền công, cụ thể là từ 100 tới tối đa 200 đồng.

Tính ra mức thu không khá hơn so với việc đan mành trúc nhưng khỏi lội xình và thở hít không khí nhiễm mùi bùn suốt ngày. Hơn nữa, tôi hết phải ngồi chết dí một chỗ với mấy ống trúc, mấy cọng kẽm mà luôn di chuyển giữa trời. Nhưng mấy tiếng “hãy đợi đó” thường nghe nhắc cũng có ý nghĩa bao la không kém mấy tiếng “nghề thất kinh.”

Cái gì cũng phải đợi rồi mới rõ.

Tôi đang thoải mái đạp xe ngang dọc từ Thủ Đức về Sài Gòn, vào Bình Chánh sang Gò Vấp thì bỗng bị khựng ngay trước ngõ nhà mình. Từ Cư Xá Thanh Đa đạp qua Ngã Tư Xa Lộ, tôi chui vào con hẻm phía đối diện trường Nguyễn Duy Khang thuở nào và kiếm được cô thợ thêu. Cô gái cỡ tuổi hai mươi, mừng ra mặt khi nghe tôi nói sẽ giao hàng đều đặn, nếu cô chấp nhận mức công xá do tôi đề nghị. Mọi sự đều tốt đẹp và tôi giao cho cô món hàng xịn, trị giá 20 ngàn đồng với lời hẹn bảy ngày sau trở lại lấy.

Đúng ngày hẹn, tôi trở lại. Cô gái đi vắng. Mẹ cô nói “cháu hẹn ông trưa mai.”

Trưa hôm sau, giữa cơn nắng gắt tôi lóc cóc đạp xe tới.

Căn nhà đóng cửa. Hỏi thăm hàng xóm, không ai rõ mẹ con cô thợ thêu bận việc gì, đi đâu.

Buổi tối, dù mệt nhoài, tôi vẫn tìm tới.

Lần này gặp cô gái. Cô phân trần mấy bữa rày bận quá chưa kịp làm, xin cho cô khất tới tuần sau. Đành vậy thôi! Dù sao đây cũng là việc có tính nghệ thuật, đâu có thể thúc ép.

Tôi trở về xin lỗi cơ sở về sự chậm trễ và hẹn lại.

Tuần sau, tôi đạp xe vào con hẻm sâu hút. Lần này tôi đi vào buổi tối.

Cho chắc ăn! Vì cô gái có thể làm chậm hơn một chút.

Tới nơi, tôi thấy cô gái đang ngồi với mẹ trong nhà. Nhưng tôi lạ lùng trước ánh mắt lạnh tanh của cô. Đáp lại câu hỏi đon đả của tôi, cô nhíu mày:

– Ông nói gì? Hàng nào?

Tôi ngạc nhiên:

Hàng giao cho cô thêu và cô hẹn hôm nay giao lại.

Bà mẹ cô lập tức bật đứng lên, lớn tiếng:

Ở đây không thêu vá gì. Đừng có hòng kiếm chác. Anh là ai mà tới dựng chuyện?

Tôi sững sờ nhưng chưa biết nói sao thì đã nhận ra thế nguy của mình. Ngoài cửa, một đám lố nhố kéo tới từ lúc nào đang bao quanh chiếc xe đạp của tôi.

Tôi lao ra, nắm chắc ghi đông xe. Hai mẹ con cô gái lao ra theo, nói như gào:

Hết chỗ kiếm ăn hay sao mà dẫn xác tới đây bày đặt nói càn. Dám thưa thì đi thưa đi.

Tôi vẫn chưa biết nói gì thì từ đám đông có người lên tiếng:

Thưa kiện con mẹ gì! Khôn hồn thì cút đi cho khuất mắt. Ở đây hổng có chỗ cho mấy thằng lưu manh xạo sự.

Cả đám đông lập tức nhao nhao và một đứa trẻ cỡ mười tuổi nhào tới đá vào chiếc xe đạp của tôi.  Tội nghiệp chiếc xe bỗng dưng bị đòn oan. Tôi nhìn quanh thấy ít nhất mười mấy cặp mắt già trẻ, lớn bé hằm hè chiếu vào mình và nhớ tới cái tước hiệu “thằng lưu manh xạo sự” vừa bị gán. Giữa con hẻm tối tăm với lực lượng chênh lệch này, nhất là chính nghĩa đang nằm trong tay đám đông, tôi còn cách nào hơn là theo lời khuyên của Tôn Tử, thực hiện kế sách thứ 36 — tẩu vi thượng sách !

Tôi nhảy lên xe, đạp đi giữa tiếng la ó chửi bới như một góc chợ cá Cầu Ông Lãnh. Tôi đạp vùn vụt bất chấp con hẻm đầy người qua lại tới đường lớn mới dám ngừng để thở hắt ra vì thoát nạn. Nhưng vừa thở ra một hơi tôi đã phải nín ngay vì sực nghĩ tới cái giá 20 ngàn của xấp vải.

Moi đâu ra tiền để bồi thường cho cơ sở?

Giỏi lắm thì mỗi ngày tôi chỉ kiếm nổi từ 300 tới 500 đồng.

May mắn sau đó tôi được thông cảm cho ký giấy nợ với lời cam kết trả dần hàng tháng. Bỗng dưng vác món nợ trời ơi, tôi không dám tiếp tục nghề bỏ hàng thêu nữa.

Sức vóc và miệng lưỡi của tôi không hợp với nghề này.

Một nghề thất kinh! Mức thất kinh càng lớn hơn khi tôi nhớ tới ánh mắt lạnh tanh của cô gái nhìn tôi, nhớ tới độ tuổi trẻ trung và hình vóc mảnh mai duyên dáng của cô.

Nhưng bỏ nghề này thì phải kiếm nghề khác và kiếm tức khắc, vì cái bao tử không biết chờ đợi. Tôi đi kiếm người quen, tìm lối thoát.

Một bạn trẻ lúc này đã trọng tuổi đang hoạt động trong ngành thể dục thể thao, bàn với tôi:

Với khả năng tổ chức và cái vốn kỹ thuật sẵn có, anh nên mở lò võ. Tụi tôi sẽ xúm lại giúp anh. Phong trào học võ đang phát triển, chắc chắn sẽ có nhiều võ sinh. Anh chỉ cần thu mỗi võ sinh cỡ 3 ngàn hoặc 5 ngàn một tháng là đủ sống. Hạng bét cũng phải có 20 võ sinh.

Cuối năm 1974, tôi từng có ý đem võ thuật vào học đường khi lui tới với mấy người bạn ở trường Nhân Chủ. Lúc này, tôi rất thích ý kiến của anh bạn nên lập tức tới quan sát các lò võ, gặp một số võ sư đang hoạt động. Võ sư Trần Tiến là người đầu tiên tâm sự với tôi:

Tôi quý chú lắm, nhưng việc không dễ gì. Chú biết tôi là người thế nào cả về chuyên môn lẫn tương quan với chế độ. Nói vậy để chú thấy tôi có nhiều điều kiện vượt xa chú. Vậy mà lò võ của tôi, như chú thấy đó, chỉ chưa tới hai mươi võ sinh gồm cả những đứa miễn phí vì nghèo quá. Đó là chưa kể các lôi thôi từ mọi phía. Tạm gác lý lịch của chú mà chỉ nói riêng về việc đối phó với đám đầu trâu mặt ngựa đầy rẫy trong các khu phố cũng đủ nhức đầu. Chú có biết là thằng già tám chục tuổi như tôi mà đã nhiều lần bị chúng kéo đến chửi bới thách thức, rồi liệng đủ thứ vào sàn tập của mình không? Không lẽ đánh chúng nó! Mà im lặng thì còn làm được gì nữa. Đau đầu lắm, chú ơi!

Năm 1936, khi tôi vừa 3 tuổi, võ sư Trần Tiến ([1]) đã là Vô Địch Kiếm Thuật Đông Dương.

Năm 1938, trên võ đài quốc tế Singapore, ông từng hạ đối thủ đang nổi danh “người bất bại” là võ sĩ Singapore Tiểu Lâm Xung.

Từ trái : Uyên Thao – Võ sư Trần Tiến– 1 bạn già và 1 nữ võ sinh đã qua Canada từ 1994

Năm 1945, ông tham gia bộ đội kháng chiến trở thành đại tá chỉ huy lực lượng Đặc Công và còn trực tiếp truyền thụ võ thuật cho nhiều nhân vật lãnh đạo cao cấp.

Năm 1956, bị coi là “có vấn đề tư tưởng”, ông bị loại khỏi quân ngũ. Nhờ từng là thầy dạy võ cho một số nhân vật lớn, ông tránh khỏi nhiều khó khăn nhưng vẫn ngộp thở.

Sau 1975, ông vào Sài Gòn mở một sàn tập bên đường Chi Lăng trong vòng rào Bộ Tổng Tham Mưu VNCH thuở trước. Ông kể với tôi về hậu quả có thể lãnh khi mở lò võ, vì sẽ không ai nhìn sự việc chỉ đơn thuần là tôi lo kiếm cơm. Hai chữ thất kinh ló ra, nhưng tôi vẫn gặp thêm một số bạn bè trong đó có Từ Võ Hạnh.

Từ Võ Hạnh từng nổi tiếng về các môn Karaté, Tae Kwon Do, Thiếu Lâm… cho biết anh và một số bạn đang bị cấm hoạt động võ thuật. Những người chung xuồng với anh đều có tên tuổi trong võ giới miền Nam trước 1975 như Bạch Văn Lai, Nguyễn Hoàng Tuấn, Phạm Quang Thông… phải mở sàn tập chui tại nhà một người quen để tập luyện.

Lý do lâm cảnh trên chỉ vì Từ Võ Hạnh cùng các bạn thấm nhuần câu “tôn sư trọng đạo” khi tới võ đường thuở nào nên Phạm Quang Thông từng đoạt chức vô địch Á Châu, Từ Võ Hạnh từng nổi tiếng đá bay số một Việt Nam và Bạch Văn Lai từng đoạt nhiều danh hiệu vô địch .… vẫn luôn nhớ bổn phận môn sinh đối với người từng dạy dỗ mình là võ sư Choi Hong Hi. Do đó khi võ sư Choi Hong Hi qua thăm Việt Nam, những người này họp nhau ra Hà Nội đón chào thầy. Chuyện chỉ có vậy, nhưng đã bị nhìn theo cách khác và lập tức liệt tất cả vào sổ đen, rồi một quyết định được đưa ra: “Triệt để cấm tham gia hoạt động võ thuật vì “đang manh nha chuyển lửa về quê nhà.” Vấn đề “nâng cấp tư duy” đã đặt ra và sau hậu quả cấm hoạt động võ thuật chưa biết điều gì sẽ ập tới.

Tiết lộ của Từ Võ Hạnh khiến tôi thất kinh thực sự.

Rồi một buổi sáng Hạnh tới Cư Xá Thanh Đa từ biệt tôi. Tối hôm đó, anh lên đường qua Mỹ theo chương trình HO. Chúng tôi ngồi với nhau ở một quán cà phê vườn vắng khách và tôi đau nhói trong ngực khi nhìn những dòng nước mắt lăn dài trên má Từ Võ Hạnh.

Từ Võ Hạnh là người đầu tiên thúc đẩy sự tái sinh phong trào võ thuật tại Sài Gòn sau năm 1975, mong đem lại một điều tốt đẹp cho giới trẻ. Cuối cùng, anh thấy rõ không phải ý hướng tốt đẹp nào cũng được chấp nhận nên dù không muốn xa quê hương nhưng anh không thể ở lại, vì “nâng cấp tư duy” vẫn được coi là võ khí tuyệt hảo để bảo vệ chế độ. Và, bảo vệ chế độ mới là điều thực sự quan trọng trong cuộc sống ở Việt Nam lúc này.

Ít lâu sau, Phạm Quang Thông nối gót Từ Võ Hạnh. Ở lại Sài Gòn chỉ còn Bạch Văn Lai, nhưng Lai không dám nhìn khỏi cái sạp vải của vợ con tại chợ An Đông.

Tôi không dám tơ tưởng đến võ thuật nữa. Vì ngay những người sống trọn vẹn cùng võ thuật cũng phải ứa nước mắt lánh xa thì một kẻ dựa dẫm như tôi khó tránh nát xác nếu bước vào. Nhưng vẫn giữa dòng sinh hoạt võ thuật, tôi đã tìm thấy cái nghĩa cụ thể nhất từ mấy tiếng “nghề thất kinh.” Người giúp tôi thấy cái nghĩa đó là Hà Châu.

Đầu năm 1957, khi nhà nước Đệ Nhất Cộng Hòa mở Hội Chợ Mùa Xuân tại Thị Nghè, Hà Châu đã tham gia một tiết mục chương trình hội chợ.  Trong tiết mục này, anh đứng giữa hai xe tải, cột tay vào các khoen xích sắt gắn sau xe và hai xe nổ máy rồ ga phóng về hai phía ngược chiều.  Người xem bu lại, kinh hoàng sợ anh sẽ bị xé xác thành hai mảnh trong nháy mắt.

Nhưng hai chiếc xe xoay bánh tới tóe lửa vẫn bị anh ghìm cứng tại chỗ. Lần biểu diễn đó của anh khiến cây cầu từ Sở Thú qua Thị Nghè bị đợt sóng người dồn nghẹt gây tai nạn thảm khốc với số nạn nhân lên đến cả trăm người do xô đạp nhau nên rớt xuống sông. Số chen lấn quá đông và dữ dội tới mức nhiều thanh sắt hai bên cầu bị uốn cong vòng ra bên ngoài.

Năm 1991, tôi gặp lại Hà Châu. Tóc anh đã bạc, nhưng anh nhuộm đen nhánh.

Gặp lại nhau, anh nhắc: “Thầy với tôi ra chân cầu Sài Gòn lai rai chút đi. Dù sao thì bây giờ vẫn còn đủ Song Châu như thường.”

Hà Châu thường gọi tên thật của tôi và có thói quen gọi bạn bằng “thầy” như kiểu môn sinh của anh xưng hô. Chúng tôi ngồi với mấy chai la-de và mớ trái cây.

Hà Châu cho biết các nghề anh làm sau 1975 đều “thất kinh” hết. Trước tiên anh vào nghề thợ tiện rồi đi rèn dao búa … Ít năm trước, một số người trong xóm đề nghị anh trở lại với võ thuật. Anh học võ từ nhỏ tại Hong Kong thuộc Thiếu Lâm Hồng Gia Phái nên hào hứng với đề nghị này. Các sắp đặt tiếp theo không khó lắm vì đang lúc tư nhân được khuyến khích đóng góp khả năng nghề nghiệp. Thời gian này là dịp chuẩn bị đón Xuân Quí Hợi 1983 hay Giáp Tý 1984 chi đó, và Hà Châu được đề nghị biểu diễn ngay tại xã An Khánh, huyện Thủ Đức.

Mọi người giúp kiếm được một xe hủ lô lăn đường và màn biểu diễn của anh là nằm dưới đất cho xe cán qua ngực. Màn này anh từng biểu diễn nhiều lần trước 1975 và đã có lần một tờ báo loan tin anh bị xe hủ lô cán chết tại Cần Thơ. Tôi còn nhớ đó là tờ Tia Sáng do ông Nguyễn Trung Thành làm chủ nhiệm.

Cuộc biểu diễn đầu tiên sau nhiều năm xa nghề của Hà Châu thành công hoàn hảo.

Mọi người xúm lại nhắc anh lo chỉ dẫn võ thuật cho con em họ. Hà Châu khấp khởi mừng vì đã le lói triển vọng hết phải trôi giạt. Nhưng cuộc sống lại thường không cho phép một niềm vui kéo dài. Vì mọi hy vọng tốt lành của con người có vẻ luôn khiến dấy lên nỗi đố kỵ theo kiểu “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” như thi hào Nguyễn Du từng nhắc.

Chỉ hơn 24 giờ sau khi Hà Châu biểu diễn, võ khí “nâng cấp tư duy” được vận dụng và Hà Châu nhận ngay quyết định từ xã An Khánh: “Trục xuất khỏi xã.” Cùng với văn thư buộc Hà Châu thi hành lệnh còn có nhiều bản cáo thị được in dán khắp các tụ điểm trong xã, hô hào “vạch mặt một phần tử xấu cực kỳ nguy hiểm đang mưu đồ lũng đoạn tinh thần bà con.”(*)

Chủ tịch xã triệu tập phiên họp khẩn cấp giới lãnh đạo xã để chỉ đạo các ấp trưởng cùng cán bộ an ninh “kịp thời đối phó với tình hình!”(*) Lý do được nêu là không ai có thể biến thành mình đồng da sắt để chịu nổi cả khối nặng mấy tấn cán ngang ngực. “Chuyện Hà Châu đã làm trong đêm qua là một trò phù thủy và tên đó đích thị là tên phù thủy vô cùng nguy hiểm, cần diệt trừ.”(*)

Cuộc hô hào của vị chủ tịch xã được nhiệt liệt hưởng ứng bởi mọi cấp cán bộ trong xã. Riêng số cán bộ đã tiếp tay Hà Châu tổ chức buổi biểu diễn càng hưởng ứng hăng hái hơn để chứng tỏ tinh thần phục thiện cực cao của mình. Hà Châu bị đuổi khỏi xã trong thời hạn 24 giờ và còn được giải thích đó là “do lòng nhân ái và chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà Nước. Bởi lẽ, một tên phù thủy nguy hiểm dám ló mòi đầu độc quần chúng bằng những ma thuật như thế nhẹ nhất cũng phải tống cổ vào trại cải tạo.”(*)

Người xưa vẫn nói “chúng khẩu đồng từ, ông sư cũng chết” trong khi các cái khẩu ở đây đều có gang thép thì cựa vào đâu nổi, dù Hà Châu là võ sư khổ luyện môn ngạnh công. Thế là chỉ sau mấy giờ khấp khởi hy vọng thoát kiếp lêu bêu, Hà Châu lại lâm cảnh lêu bêu thảm hại hơn vì biến thành kẻ không nhà do bị đuổi khỏi vùng đất từng gắn bó từ nhiều năm qua.

Khi ngồi với tôi bên bờ sông Sài Gòn dưới chân cầu Xa Lộ, Hà Châu cho biết anh đã được trở về căn nhà cũ. Chính vị chủ tịch xã từng đuổi anh mấy năm trước lại thích thú làm quen với anh và không còn nhắc gì đến mấy tiếng “tên phù thủy nguy hiểm” nữa. Lý do đơn giản là mấy vị lo về võ thuật thành phố chưa quên cái tên Hà Châu nên một ngày đã đi kiếm anh, nhắc giúp họ vào các dịp cần giới thiệu bộ mặt võ thuật thành phố với khách ngoại quốc.

Anh được đưa ra biểu diễn tại các đại hội võ thuật rồi tiến lần tới biểu diễn kiếm tiền tại các khu giải trí Đầm Sen, Kỳ Hòa… Các cuộc biểu diễn của anh như lấy cần cổ làm điểm tựa để uốn cong các thanh sắt dầy, chỉ dùng hai ngón tay đóng hoặc nhổ các cây đinh dài mười lăm phân ngập vào một tấm ván, nằm cho xe tải cán qua người hay húc đầu phá bể một tảng bê tông… luôn được khán giả tán thưởng và báo chí ca ngợi. Anh trở thành thứ đem ra khoe với người ngoại quốc nên anh xin được trở về nơi ở cũ trong xã An Khánh không khó gì. Vào lúc ngồi với tôi, anh đang được mời qua biểu diễn tại các thành phố Roma, Vatican, Napoli và Venise ở Ý. Anh tâm sự:

Mình học võ đâu phải để làm các trò này. Biểu diễn chẳng qua để khuyến khích lớp em, cháu rèn luyện thể chất và tinh thần chứ đâu phải để mãi võ kiếm tiền.

Tôi an ủi anh:

Đâu phải lúc nào người ta cũng được làm đúng ý mình. Anh thấy tôi đâu có muốn vào tù. Dù sao thì anh cũng đã đỡ hơn so với lúc bị đuổi khỏi xã An Khánh.

Anh lắc đầu: “Vẫn thất kinh lắm, thầy ơi!” Và, giải thích tiếp:

Thù lao mỗi lần biểu diễn trên dưới 700 ngàn. So với mức kiếm của mọi người thì nhiều, nhưng mình đâu có được hưởng. Trừ đầu trừ đuôi mọi khoản còn lại cho mình đáng bao nhiêu. Hơn nữa, đâu phải lúc nào cũng có biểu diễn, nhiều lắm thì một tháng hai lần, thường thì vài ba tháng mới có một lần. Thất kinh lắm, ngay cả cái chuyện đi Ý của tôi cũng thế! Nhưng thôi, uống đi!

Tôi chỉ biết về chi tiết các cuộc biểu diễn của Hà Châu, kể cả về chuyến đi Ý của anh, sau nhiều lần gặp gỡ một số người thuộc võ giới trước 1975.

Hà Châu được mời qua Ý từ cuối năm 1989, nhưng hơn một năm sau mới lo xong thủ tục giấy tờ để lên đường do điều kiện cần có một cán bộ nhà nước đi theo.

Tại Ý, anh biểu diễn nhiều nơi và theo hợp đồng, được trả khoản thù lao khá lớn tổng cộng hơn hai chục ngàn đô-la. Nhưng khi về Sài Gòn, anh chỉ đủ tiền sửa chiếc xe Vespa cổ lỗ thành chiếc xe tương đối khá hơn. Toàn bộ số tiền anh được hưởng theo hợp đồng rơi vào nhiều khoản mà anh không được quyền nhắc tới, tương tự nhiều khoản trừ vào thù lao các cuộc biểu diễn ở trong nước của anh.

Từ Ý về, anh mang tới tặng tôi chiếc đèn cảm ứng Đài Loan và cho biết anh lại vừa nhận được lời mời đi Úc. Tuy nhiên, anh có vẻ băn khoăn:

Tôi nghĩ nếu được đi một mình thì đi, không thì thôi. Làm sao đòi hỏi người ta mời thêm người, trong khi người đó đi chẳng để làm gì ngoài việc nắm đầu, xiết họng mình.

Rồi anh tâm sự:

Theo mấy trò này ở tuổi tụi mình bây giờ, tôi thấy sợ. Nhiều lần dùng đầu phá bê-tông, tôi phát run. Thầy dư biết đâu phải lúc nào mình cũng làm chủ nổi mình như hồi trẻ. Húc đầu vào tảng bê-tông dày cả tấc có khi chính cái đầu mình bể chứ đâu phải bê-tông bể. Bây giờ tôi chỉ thở ra được sau khi biểu diễn xong.

Đúng là “thất kinh” nếu hiểu rõ hậu quả bất ngờ của loại trò chơi này. Nhìn nét mặt anh khi trò chuyện tôi thấy cái tên “nghề thất kinh” đã được đặt đúng chỗ.

Tất nhiên, hiểu biết của tôi không thể bao trùm mọi ngõ ngách cuộc sống, nhưng tôi tin mình không nghĩ sai. Không thất kinh sao được khi dồn hết sức lao đầu vào một tảng bê-tông dày cứng? Không thất kinh sao được khi nằm dài dưới đất chờ một khối đá nặng cả trăm kí thả từ độ cao năm, bảy thước rớt thẳng xuống ngực mình?…

● Từ trái : – Uyên Thao – Hà Châu – Từ Võ Hạnh     Sài Gòn 1991

Hà Châu lao vào cái nghề như thế để kiếm một khoản thù lao vài trăm ngàn bạc cho mỗi lần biểu diễn tức chỉ đủ mua khoảng một tạ gạo hạng bét.

Anh hơn tôi 7 tuổi nên lúc đó sắp bước tới tuổi thất tuần. Quen biết nhau đã lâu, nhưng tôi chưa bao giờ thấy ở anh vẻ trầm tư như vậy. Bình thường trên môi anh không khi nào thiếu nụ cười. Nhưng tôi biết nói gì với anh?

Thôi thì cứ mặc cho mọi chuyện xuôi theo dòng của nó.

Hãy đợi đấy! Đúng hẹn lại lên!

Câu nói ẩm ương này cứ được lập lại hoài, dù cả người nói lẫn người nghe chẳng biết đợi cái gì và hẹn với cái gì, khi nào đến hẹn….

Rồi một thời gian khá lâu, tôi không gặp Hà Châu do phải chuyển chỗ ở về Bà Quẹo.

Đầu năm 1998, tôi mới có dịp qua xã An Khánh và ghé lại thăm anh. Tôi tới đúng nhà mà vẫn lộn nhà vì Hà Châu không còn ở căn nhà đó nữa.

Loay hoay theo chỉ dẫn một hồi, tôi mới tới một căn nhà mà khoảng hiên trước bít lại thành một gian phòng. Trong gian phòng, lúc nhúc một bày chó mười mấy con toàn loại chó kiểng đang được ưa chuộng tại Sài Gòn.

Trong lúc chờ mở cửa, tôi thầm nghĩ:

Chắc ông ấy bốc rồi!

Tôi vẫn biết một niềm vui của Hà Châu là nuôi chó, mèo.

Nhưng tôi ngạc nhiên khi cửa mở. Đứng trước tôi là một ông già xanh xao.

Anh kéo tôi vào gian phòng xặc xụa mùi chó, lùa lũ chó vào phòng trong, xập cánh cửa ngăn lại. Đám chó bị nhốt bất ngờ nháo nhào xô tới sủa ầm ĩ.

Hà Châu dẹp những món đồ thợ rèn lỉnh kỉnh, lấy một chiếc ghế cho tôi ngồi, rồi anh ngồi xuống đầu thanh gỗ được biến thành chiếc ghế dài chồng chất đủ thứ dụng cụ.

Việc đầu tiên anh làm là co một bàn chân lên chìa cho tôi ngó. Thấy tôi không hiểu, anh tụt chiếc giày vải che kín bàn chân ra: Bàn chân anh bị cụt tới sát ống chân, chỉ còn lại vỏn vẹn phần gót.

Nụ cười dúm dó trên môi anh khiến tôi không lên tiếng được. Tôi chỉ thấy trên vách ngay sau lưng anh là một mảnh báo bằng tiếng Ý lộng kính nổi bật chữ “Ummo” lớn màu đỏ xậm mà anh từng cho biết được giải nghĩa là “người ngoài hành tinh.”

Trong dịp biểu diễn tại Ý mấy năm trước, anh đã được báo chí Ý tặng chữ đó: “Ummo Hà Châu – Hà Châu, Người ngoài hành tinh!”

Một hồi lâu sau, tôi mới có thể chuyện trò bình thường trở lại với anh.

Hà Châu cho biết anh bị tai nạn xe.

Hơn một năm trước, trên đường từ thành phố về nhà, anh dừng lại Ngã Tư Xa Lộ đang có đèn đỏ. Đúng lúc anh thả chân xuống đường thì một chiếc xe tải loại mà người dân Sài Gòn thuở nào quen gọi là xe xi-leng — Sealand — vượt lên nghiến qua bàn chân anh.

Chiếc xe trọng tải mười lăm tấn biến trọn bàn chân anh thành một loại thịt ghiền và anh phải nằm bệnh viện gần nửa năm. Kết quả là chiếc Vespa được sửa lại nhờ chuyến đi Ý bay mất cộng với một bàn chân.

Và anh phải bán căn nhà cũ chuyển sang căn nhà này để có thêm ít tiền lo thuốc thang hồi sức. Bây giờ anh quanh quẩn trong nhà với đôi chân cà nhắc.

Vợ anh tiếp tục nghề may gia công, nhưng để gom đủ chi tiêu cho sinh hoạt hàng ngày của gia đình, anh phải kiếm ra một nghề: Nghề nuôi chó! Anh vốn yêu súc vật nên không nuôi chó cung cấp cho các hàng thịt chó mà nuôi chó kiểng. Loại chó này bán được tiền nhưng vốn nuôi khá tốn kém. Anh mới vô nghề và tương lai không sáng sủa mấy.

Anh chỉ bầy chó chạy nháo nhào trong nhà, nói:

Thầy ngắm coi. Chúng nó ghẻ hết!

Anh cho biết anh tắm cho bày chó rất kỹ. Vậy mà con nọ cứ nối theo con kia trụi lông xùi da. Anh kết luận: “Chắc tại tôi không có tay nuôi!”

Mùi chó ghẻ hôi nồng nặc đầy ắp gian phòng, bao nghẹt hai chúng tôi.

Tôi không biết gì về nuôi chó nên hỏi thăm anh về chuyến đi Úc. Anh cho biết đã từ chối lời mời vì không thể đòi phía Úc phải nhận thêm một người tháp tùng. Anh nói:

Tôi còn biểu diễn được, nhưng lúc này không có chương trình nào cho mình nữa. Ngoài lũ chó, tôi nhận rèn kiếm thuê cho những người chơi kiếm. Tôi mới rèn xong một thanh kiếm với giá một triệu hai.

Theo anh, giá đó chỉ đem lại cho anh hơn hai trăm ngàn tiền công và lời, dù để rèn một thanh kiếm anh phải mất cả tháng cặm cụi bên lò nung. Nhưng công việc này giúp anh có cảm giác vẫn gần gũi thế giới võ thuật.

Tôi đi ngược con hẻm nhỏ đầy hố bùn từ nhà Hà Châu ra đường với ý nghĩ ngổn ngang.

Mùi chó ghẻ còn bám dính quần áo và từng phân da thịt tôi. Tôi thấy có lẽ cái nghề anh đang làm mới thất kinh nhất so với mọi “nghề thất kinh” đã qua của anh.

Tôi thầm mong những con chó của anh sẽ lành bệnh ghẻ, nhưng không hình dung nổi anh làm cách nào để chen chân vào thị trường chó ở Sài Gòn.

Đã nhiều lúc đang đi dọc các đường phố, tôi thường giật mình vì một người bất ngờ nhào xuống dang tay chặn người đi xe dừng lại, miệng nói như súng liên thanh nổ.

Đó là những người bán chó luôn nhảy nhót, gào mời bên những lồng chó đặt trên các vỉa hè. Hà Châu có đủ sức làm công việc này không?

Tôi chỉ mong những con chó sẽ lành bệnh ghẻ để anh có thể thở hít một chút không khí bớt ngột ngạt hơn trong căn nhà bít bùng nồng nặc mùi hôi kia thôi.

Điều này chỉ có thể giúp giảm nhẹ cho gia đình anh phần nào nỗi thất kinh.

Còn sau đó thì lại phải ca cái câu:

Hãy đợi đấy !…

Hà Châu đã ngoại thất tuần. Anh sinh năm Ất Sửu 1925 và những người cùng năm sinh đó chắc chẳng còn bao nhiêu.

Anh sẽ đợi đến bao giờ để thoát cái nghiệp sống với những nghề thất kinh ?

Tôi không nghĩ thêm được điều gì nữa, chỉ đọc thầm một câu thơ mà tôi đã viết thuở đang ở trong trại tù:

Sài Gòn còn mưa bay không, em ?

 

Uyên Thao

Sài Gòn tháng 01/1999

([1]) Võ sư Trần Tiến là cháu ruột hùm thiêng Yên Thế Hoàng Hoa Thám. Năm 1913, khi ông vừa 1 tuổi, Đề Thám bị đầu độc chết nên được mẹ ôm trốn về Hải Phòng đổi qua họ Trần. Bên ngoại lo cho ăn học, tốt nghiệp kỹ sư Canh Nông nhưng ông luôn nhớ gốc họ Hoàng nên dù là kỹ sư, ông không tham gia bất kỳ công việc nào dính tới chính quyền thuộc địa, chỉ say mê võ thuật và sau năm 1945 trở thành sĩ quan chỉ huy binh chủng Đặc Công trong bộ đội kháng chiến Việt Minh. 

(*) Những dòng trích trên đều trích từ nguyên bản văn thư của UBND Xã An Khánh về vụ biểu diễn võ thuật của Hà Châu.

 

Share your love
Uyên Thao
Uyên Thao
Articles: 2