Thử tìm hiểu hệ thống bầu cử Hoa Kỳ từ Liên bang, Tiểu bang đến Địa phương

Bản đồ Cử tri đoàn Hoa Kỳ. Số phiếu đại cử tri được phân bổ cho mỗi tiểu bang và Đặc khu Columbia (Washington, D.C.) theo kết quả tái phân bổ dựa trên Điều tra Dân số năm 2020, áp dụng cho các cuộc bầu cử tổng thống năm 2024 và 2028. Tổng cộng có 538 phiếu đại cử tri; một ứng cử viên cần ít nhất 270 phiếu để đắc cử Tổng thống Hoa Kỳ

Phần I. Lá Phiếu Từ Tòa Bạch Ốc Đến Khu Phố Của Chúng Ta

Mỗi bốn năm, khi Hoa Kỳ bầu Tổng thống, cả nước dường như bước vào một mùa chính trị đặc biệt. Truyền hình, báo chí, mạng xã hội tràn ngập hình ảnh các ứng cử viên. Những cuộc tranh luận được hàng chục triệu người theo dõi. Người ta nói về Pennsylvania, Michigan, Georgia, Arizona; tính từng phiếu đại cử tri và chờ kết quả đôi khi đến tận khuya.

Vì thế, khi nói đến “đi bầu” ở Mỹ, nhiều người tự nhiên nghĩ ngay đến bầu Tổng thống.

Nhưng nếu chỉ nhìn cuộc bầu cử Tổng thống, chúng ta mới chỉ nhìn thấy một phần của nền dân chủ Hoa Kỳ.

Trong đời sống hàng ngày, rất nhiều quyết định ảnh hưởng trực tiếp đến một người dân Mỹ không được đưa ra tại Tòa Bạch Ốc hay Quốc hội ở Washington. Trường học của con em chúng ta được tổ chức như thế nào, thuế nhà đất bao nhiêu, đường nào được mở rộng, khu đất nào được phép xây chung cư, cảnh sát và cứu hỏa được cấp bao nhiêu ngân sách, thư viện có được mở thêm hay không, phương tiện công cộng phát triển ra sao, phần lớn những quyết định ấy nằm ở chính quyền tiểu bang và địa phương.

Bởi vậy, muốn hiểu lá phiếu của một công dân Mỹ, chúng ta phải hiểu một đặc điểm căn bản của hệ thống chính trị Hoa Kỳ: Quyền lực không tập trung ở một nơi. Và vì quyền lực được phân chia, lá phiếu của người dân cũng được sử dụng ở nhiều cấp khác nhau.

Một quốc gia, nhiều cấp chính quyền

Hoa Kỳ là một nước cộng hòa liên bang. Điều đó có nghĩa đất nước không chỉ có một chính quyền trung ương duy nhất điều hành mọi việc từ Washington.

Có ba cấp chính quyền mà người dân thường xuyên tiếp xúc: chính quyền Liên bang (Federal Government), chính quyền Tiểu bang (State Government), và chính quyền Địa phương (Local Government).

Mỗi cấp chính quyền có những quyền hạn và trách nhiệm khác nhau. Vì thế, người dân cũng bầu những người đại diện khác nhau để thực hiện những trách nhiệm ấy.

Đây là điểm khá đặc biệt đối với những người đến từ những quốc gia có hệ thống chính quyền tập trung. Ở Mỹ, một công dân có thể cùng lúc được đại diện bởi Tổng thống, hai Thượng nghị sĩ liên bang, một Dân biểu liên bang, Thống đốc tiểu bang, các dân biểu trong Quốc hội tiểu bang, rồi thị trưởng, hội đồng thành phố hay hội đồng quận, hội đồng giáo dục và nhiều chức vụ địa phương khác.

Không phải tất cả những chức vụ này đều xuất hiện trên lá phiếu ở mọi tiểu bang, vì mỗi tiểu bang có hiến pháp và luật bầu cử riêng. Hệ thống bầu cử Hoa Kỳ thực ra rất phân quyền: luật tiểu bang quy định phần lớn cách thức tổ chức bầu cử, trong khi luật liên bang đặt ra những tiêu chuẩn mà các tiểu bang phải tuân thủ. Việc trực tiếp tổ chức bầu cử thường nằm trong tay các cơ quan địa phương.

Bởi vậy, không có một hệ thống bầu cử hoàn toàn giống nhau trên toàn nước Mỹ. Có hơn 10.000 đơn vị quản trị bầu cử trên khắp Hoa Kỳ. Ở nhiều nơi, quận (county) tổ chức bầu cử; nơi khác có thể là thành phố (city) hoặc thị trấn (town).

Nhìn bề ngoài, hệ thống ấy có vẻ phức tạp. Nhưng phía sau sự phức tạp đó là một nguyên tắc khá đơn giản: Quyền lực ở đâu thì trách nhiệm của công dân cũng ở đó.

Cấp Liên bang: Tổng thống và Quốc hội

Ở cấp Liên bang, những cuộc bầu cử được chú ý nhất là bầu Tổng thống và Quốc hội Hoa Kỳ.

Tổng thống được bầu bốn năm một lần. Nhưng về mặt hiến pháp, người dân không trực tiếp bầu Tổng thống bằng một cuộc phổ thông đầu phiếu toàn quốc. Lá phiếu của cử tri đi vào hệ thống Đại Cử Tri Đoàn (Electoral College).

Hiện nay có tổng cộng 538 phiếu đại cử tri. Một ứng cử viên cần ít nhất 270 phiếu để đắc cử Tổng thống. Mỗi tiểu bang có số đại cử tri tương ứng với tổng số Thượng nghị sĩ và Dân biểu liên bang của tiểu bang đó; Washington, D.C. có ba. Trong 48 tiểu bang và Washington, D.C., ứng cử viên thắng số phiếu phổ thông trong tiểu bang thường nhận toàn bộ phiếu đại cử tri của tiểu bang; Maine và Nebraska sử dụng phương thức khác.

Quốc hội Hoa Kỳ gồm hai viện: Hạ viện (House of Representatives), và Thượng viện (Senate).

Hạ viện hiện có 435 dân biểu có quyền biểu quyết. Mỗi dân biểu đại diện cho một địa hạt quốc hội và nhiệm kỳ chỉ hai năm. Vì vậy, cứ hai năm toàn bộ 435 ghế Hạ viện lại được đưa ra bầu.

Thượng viện có 100 Thượng nghị sĩ, mỗi tiểu bang bất kể lớn nhỏ đều có hai người. Nhiệm kỳ Thượng nghị sĩ là sáu năm, nhưng các nhiệm kỳ được sắp xếp xen kẽ để khoảng một phần ba Thượng viện được bầu lại mỗi hai năm.

Điều này giải thích tại sao giữa hai cuộc bầu cử Tổng thống lại có một cuộc bầu cử rất quan trọng gọi là bầu cử giữa nhiệm kỳ (midterm election). Tổng thống không có tên trên lá phiếu, nhưng toàn bộ Hạ viện và khoảng một phần ba Thượng viện được đưa ra trước cử tri. Vì Quốc hội làm luật liên bang, quyết định ngân sách và kiểm soát nhiều quyền lực của hành pháp, kết quả một cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ có thể thay đổi đáng kể hướng đi của chính quyền liên bang.

Do đó, một công dân chỉ bỏ phiếu vào năm có bầu Tổng thống nhưng bỏ qua midterm thực ra đã tự từ bỏ một phần rất lớn quyền chính trị của mình.

Nhưng lá phiếu không dừng lại ở Washington. Đây mới là phần thường ít được chú ý.

Một người có thể biết tên Tổng thống Hoa Kỳ nhưng không biết tên người đại diện mình trong Quốc hội tiểu bang. Có người theo dõi rất kỹ cuộc tranh luận giữa hai ứng cử viên Tổng thống nhưng chưa bao giờ đọc tiểu sử những người tranh cử vào hội đồng quận hay hội đồng thành phố nơi mình sống. Điều này có phần nghịch lý. Bởi vì chính những viên chức ít xuất hiện trên truyền hình quốc gia ấy nhiều khi lại quyết định những vấn đề mà chúng ta gặp mỗi ngày.

Cấp Tiểu bang: một chính quyền gần hơn chúng ta tưởng

Mỗi tiểu bang Hoa Kỳ có chính quyền riêng, với hiến pháp, luật pháp và cơ cấu chính quyền riêng.

Phần lớn có mô hình tương tự chính quyền liên bang: một Thống đốc đứng đầu hành pháp, một cơ quan lập pháp tiểu bang, và một hệ thống tòa án. Nhưng chi tiết khác nhau rất nhiều giữa các tiểu bang. Một số chức vụ được dân trực tiếp bầu ở tiểu bang này nhưng có thể được bổ nhiệm ở tiểu bang khác.

Cử tri có thể bầu Thống đốc, Phó Thống đốc, Attorney General, Secretary of State, dân biểu và nghị sĩ của cơ quan lập pháp tiểu bang, cùng nhiều chức vụ khác tùy nơi. Ở một số tiểu bang, cử tri còn tham gia bầu hoặc quyết định việc tiếp tục nhiệm kỳ của thẩm phán. Ngoài việc bầu người, cử tri tại nhiều nơi còn trực tiếp biểu quyết về các trưng cầu dân ý (ballot measures), tức những đề nghị sửa đổi luật, chính sách hoặc hiến pháp tiểu bang.

Tại sao những cuộc bầu cử này quan trọng?

Bởi vì chính quyền tiểu bang quyết định hoặc có ảnh hưởng rất lớn đối với giáo dục, giao thông, luật hình sự, y tế công cộng, quy định nghề nghiệp, bảo hiểm, môi trường, thuế tiểu bang, luật lao động, quyền hạn của chính quyền địa phương và rất nhiều vấn đề khác.

Ngay cả luật bầu cử mà chúng ta đang nói đến cũng phần lớn do tiểu bang quy định.

Ai được đăng ký (voter registration) như thế nào? Khi nào bắt đầu cuộc bầu cử sớm (early voting)? Có những hình thức bầu khiếm diện (absentee voting) nào? Bầu cử sơ bộ (primary voting) được tổ chức theo phương thức nào? Cơ quan nào quản trị bầu cử?

Câu trả lời có thể khác nhau tùy tiểu bang. Chính U.S. Election Assistance Commission cũng nhấn mạnh rằng hệ thống bầu cử Mỹ mang tính phân quyền rất cao và mỗi tiểu bang có bộ luật riêng quy định điều lệ và  thủ tục bỏ phiếu.

Nói cách khác, chúng ta thường nhìn về Washington để thấy “chính trị”, nhưng rất nhiều luật lệ định hình cuộc sống của chúng ta lại được quyết định tại thủ phủ của tiểu bang.

Cấp Địa phương: nơi chính quyền bước vào đời sống hàng ngày

Xuống thêm một tầng nữa là chính quyền địa phương.

Tên gọi và cơ cấu khác nhau tùy tiểu bang: Quận (county), thành phố (city), thị trấn (town), đơn vị hánh chánh (township), đô thị (municipality), khu học chánh (school district) và nhiều loại đặc khu hành chánh (special district) khác. Đây cũng là nơi người dân dễ xem nhẹ lá phiếu nhất.

Một cuộc bầu cử Tổng thống có thể thu hút hàng chục triệu người theo dõi. Một cuộc bầu cử hội đồng thành phố (city council) hoặc hội đồng học chánh (school board) có thể diễn ra khá lặng lẽ. Có khi nhiều người trong cộng đồng thậm chí không biết hôm đó có bầu cử.

Nhưng hãy thử nhìn vào những câu hỏi rất bình thường.

Con đường trước nhà bạn có cần mở rộng không? Một khu đất trống gần nhà sẽ trở thành công viên, nhà ở hay một khu thương mại? Thuế nhà đất sẽ tăng hay giảm? Ngân sách trường học sẽ là bao nhiêu? Một trường mới có được xây hay không? Thư viện công cộng có đủ ngân sách để hoạt động? Cảnh sát, cứu hỏa và emergency services được tài trợ ở mức nào? Xe buýt và hệ thống giao thông công cộng có được mở rộng? Khu vực nào được phép xây nhà cao tầng?

Những câu hỏi ấy hiếm khi được Tổng thống quyết định. Chúng thường được quyết định từ các cấp chính quyền ở gần nhà chúng ta.

Theo USAGov mô tả, ở nhiều địa phương, Hội đồng quận chẳng hạn (Board of Supervisors hoặc County Commission) quyết định những vấn đề như ngân sách, quy định phân vùng/khu vực (zoning), sử dụng đất (land use), một số loại thuế địa phương và những sáng kiến khác của cộng đồng.

Đó là lý do tại sao nói rằng bầu cử địa phương “không quan trọng bằng” bầu Tổng thống là nhìn sai bản chất của lá phiếu.

Càng lên cấp quốc gia, cuộc bầu cử càng nổi tiếng, nhưng lá phiếu cá nhân của chúng ta nằm giữa một khối lượng cử tri rất lớn.

Càng xuống cấp địa phương, cuộc bầu cử càng ít được chú ý, nhưng số cử tri thường nhỏ hơn nhiều. Điều đó có nghĩa là ở một cuộc tranh cử địa phương sít sao, một số lượng tương đối nhỏ lá phiếu có thể tạo ra khác biệt rất rõ rệt.

Quan trọng hơn nữa, khoảng cách giữa người dân và người được bầu cũng ngắn hơn. Gửi một lá thư cho Tổng thống là quyền của chúng ta. Nhưng rất ít người có cơ hội ngồi nói chuyện trực tiếp với Tổng thống.

Trong khi đó, một thành viên hội đồng thành phố, hội đồng quận hay school board có thể là người chúng ta gặp tại một buổi họp cộng đồng, trong thư viện, tại trường học hoặc ngay trong khu phố. Đó là một khía cạnh rất đáng chú ý của dân chủ địa phương: Quyền lực nhỏ hơn, nhưng khoảng cách giữa công dân và chính quyền cũng nhỏ hơn. Và chính nơi khoảng cách ấy ngắn nhất, một công dân đôi khi có cơ hội tham gia nhiều nhất.

Vì vậy, một lá phiếu trong một cuộc bầu cử tại Hoa Kỳ đôi khi dài hơn nhiều người tưởng. Trên cùng một lá phiều, cử tri có thể vừa chọn người đại diện ở Washington, vừa chọn viên chức tiểu bang, chính quyền địa phương, và đồng thời trả lời Yes hoặc No cho một số đề nghị luật hay sửa đổi hiến pháp. Đi bầu vì thế không chỉ là chọn một Tổng thống, mà là tham gia vào nhiều tầng quyết định của chính quyền trong cùng một ngày.

Bầu cử sơ bộ (primary election) cũng là một cuộc bầu cử

Một cuộc bầu cử khác thường bị bỏ qua là bầu cử sơ bộ.

Bầu cử sơ bộ là quá trình các chính đảng lựa chọn ứng cử viên sẽ đại diện cho mình trong general election. Quy định khác nhau giữa các tiểu bang và địa phương: có nơi tổ chức open primary, có nơi closed primary, và có những hình thức ở giữa.

Nhiều cử tri chỉ xuất hiện vào cuộc bầu cử tháng 11. Nhưng trong những khu vực mà một đảng có ưu thế rất lớn, cuộc cạnh tranh thực sự đôi khi đã diễn ra trong các cuộc bầu cử sơ bộ. Người thắng vòng bầu sơ bộ của đảng chiếm ưu thế có thể có khả năng rất cao thắng luôn cuộc bầu cử chính thức.

Vì thế, hiểu bầu cử Hoa Kỳ không chỉ là hỏi: “Tháng 11 tôi sẽ bầu cho ai?” Một công dân tham gia đầy đủ còn phải biết: Ở địa phương tôi, cuộc bầu cử nào đang diễn ra, vào lúc nào, và điều gì đang được quyết định?

Các cuộc bầu cử tiểu bang và địa phương có thể diễn ra vào nhiều thời điểm khác nhau trong năm, không nhất thiết chỉ trùng với cuộc bầu cử Tổng thống.

Không ai bắt chúng ta phải đi bầu

Có lẽ đây là một trong những điều đáng suy nghĩ nhất về nền dân chủ Mỹ.

Luật pháp Hoa Kỳ không bắt buộc công dân phải đi bầu, dù đó là bầu Tổng thống, Quốc hội, tiểu bang hay địa phương.

Chúng ta có quyền bỏ phiếu. Và chúng ta cũng có quyền ở nhà. Không có cảnh sát đến hỏi tại sao chúng ta không đi bầu. Không có giấy phạt gửi về nhà. Không có cơ quan chính quyền buộc chúng ta phải chọn một ứng cử viên. Nhưng chính ở đây, quyền tự do gặp trách nhiệm công dân.

Một nền dân chủ có thể trao cho chúng ta quyền bỏ phiếu. Nó có thể tổ chức phòng phiếu, in lá phiếu, tuyển nhân viên phụ trách bầu cử (election officers), kiểm tra máy móc, bảo vệ quyền bầu cử và kiểm phiếu. Nhưng nền dân chủ không thể bước vào nhà, cầm tay chúng ta và bắt chúng ta trở thành một công dân có trách nhiệm. Trách nhiệm ấy thuộc về mỗi người công dân.

Tạm kết

Có lẽ cách đơn giản nhất để hiểu hệ thống bầu cử Hoa Kỳ là thế này: Chúng ta bầu ở nhiều cấp bởi vì chúng ta được cai quản ở nhiều cấp.

Mỗi cấp chính quyền có quyền lực khác nhau. Mỗi viên chức được bầu có trách nhiệm khác nhau. Và mỗi cuộc bầu cử trao cho người dân một cơ hội khác nhau để quyết định ai sẽ sử dụng quyền lực công thay mặt mình.

Nếu chúng ta chỉ xuất hiện bốn năm một lần để chọn Tổng thống rồi quay lưng với những cuộc bầu cử còn lại, chúng ta mới chỉ sử dụng một phần quyền công dân mà nền dân chủ trao cho mình. Dân chủ không phải là bốn năm một lần bước vào phòng phiếu để chọn một vị Tổng thống. Dân chủ là một mối quan hệ thường xuyên giữa người dân và các cấp chính quyền.

Và trong mối quan hệ ấy, lá phiếu chính là một trong những cách căn bản nhất để người công dân nói: Đây là cộng đồng của tôi. Đây là chính quyền của tôi. Và tôi có trách nhiệm tham gia vào việc lựa chọn những người sẽ thay mặt tôi điều hành nó.

Có thể những cuộc bầu cử Tổng thống làm chúng ta nhớ rằng mình là công dân Hoa Kỳ. Nhưng chính những cuộc bầu cử cho cấp chính quyền gần nhà nhất nhắc chúng ta một điều khác cũng quan trọng không kém: Dân chủ không chỉ bắt đầu từ Tòa Bạch Ốc. Dân chủ bắt đầu ngay nơi chúng ta đang sống.

Tổng thống Donald J. Trump phát biểu trước phiên họp chung của Lưỡng viện Quốc hội Hoa Kỳ, ngày 4 tháng 3 năm 2025, tại Phòng họp Hạ viện thuộc Điện Capitol ở Washington, D.C. (Official White House Photo by Daniel Torok)

Phần II. Cùng một cử tri, hai kết quả

Vì sao Hạ viện và Thượng viện có thể nói hai điều khác nhau

Hãy tưởng tượng một buổi sáng thứ Ba tháng Mười Một. Cùng những con người ấy bước vào cùng những phòng phiếu ấy, cầm cùng một lá phiếu, trong cùng một tâm trạng về đất nước. Vậy mà khi kết quả được kiểm xong, người Mỹ có thể thức dậy với một Hạ viện nghiêng về một đảng và một Thượng viện nghiêng về đảng kia  hoặc một Hạ viện đổi chủ trong khi Thượng viện gần như không nhúc nhích. Với người mới đến từ một truyền thống chính trị khác, điều này nghe như một nghịch lý, thậm chí như một trục trặc của hệ thống.

Nhưng nó không phải trục trặc. Nó chính là bản thiết kế đang vận hành đúng như dự tính. Để hiểu vì sao, ta cần tháo rời cỗ máy ra thành bốn bộ phận: thể chế liên bang, hai cách đo lường “đại diện” khác nhau, chiếc đồng hồ nhiệm kỳ, và sự thật rằng một kỳ bầu cử Mỹ thực ra là hàng trăm cuộc bầu cử riêng biệt được gộp chung một ngày.

Một nền cộng hòa “hỗn hợp”: hai nguyên tắc trong cùng một tòa nhà

Khi các đại biểu họp ở Philadelphia mùa hè năm 1787, họ mắc kẹt ở một câu hỏi tưởng đơn giản: trong Quốc hội mới, mỗi bang được bao nhiêu tiếng nói? Các bang đông dân muốn chia ghế theo dân số, càng nhiều dân, càng nhiều quyền. Các bang nhỏ sợ bị nuốt chửng, đòi mỗi bang một tiếng nói ngang nhau.

Lối thoát là cái nay ta gọi là Thỏa hiệp Connecticut (hay Đại Thỏa hiệp). Quốc hội sẽ gồm hai viện: Hạ viện chia ghế theo tỷ lệ dân số, để bang đông dân có nhiều ghế hơn bang nhỏ; còn Thượng viện thì đại diện bình đẳng, mỗi bang bất kể dân số có đúng hai thượng nghị sĩ. Thỏa hiệp ấy chỉ được thông qua nhờ hơn đúng một phiếu.

Đây không phải chi tiết kỹ thuật khô khan. Nó là một quyết định triết học về việc “nhân dân” là ai. Trong tập luận cương The Federalist (Luận cương Liên bang) số 62, James Madison giải thích rằng nước Mỹ là một nền cộng hòa hỗn hợp, mang cả tính chất quốc gia lẫn tính chất liên bang, nên chính quyền phải xây trên sự pha trộn của hai nguyên tắc. Hạ viện được chọn theo nguyên tắc đại diện theo tỷ lệ, một người, một phiếu; còn Thượng viện được chọn theo nguyên tắc đại diện bình đẳng, một bang, một phiếu. Sự bình đẳng ấy thừa nhận rằng mỗi tiểu bang vẫn giữ lại một phần chủ quyền của mình.

Đó là cốt lõi của thể chế liên bang (federalism): quyền lực không dồn hết về một trung tâm, mà được chia giữa chính quyền liên bang và các tiểu bang. Hạ viện được dựng lên để trả lời câu hỏi “Người dân Mỹ nghĩ gì?” Thượng viện được dựng lên để trả lời một câu hỏi khác hẳn: “Các tiểu bang, với tư cách những cộng đồng chính trị bình đẳng, nghĩ gì?” Như Chánh án Warren Burger về sau tóm lại, một viện được xem là đại diện cho nhân dân, viện kia đại diện cho các bang.

Khi hai viện được thiết kế để trả lời hai câu hỏi khác nhau, thì việc chúng đôi khi cho ra hai câu trả lời khác nhau không có gì đáng ngạc nhiên. Đó là tính năng của định chế.

Hai tấm bản đồ: đếm người, hay đếm bang?

Hãy cụ thể hóa bằng con số. Hạ viện có 435 ghế, chia cho các bang theo dân số. California, với gần bốn mươi triệu dân, có tới 52 dân biểu; Wyoming, với hơn nửa triệu dân, chỉ có 1. Ở Hạ viện, một cử tri California và một cử tri Wyoming có trọng lượng gần như tương đương, bởi ghế được cấp theo đầu người.

Bước sang Thượng viện, tấm bản đồ thay đổi hoàn toàn. California có 2 thượng nghị sĩ. Wyoming cũng có 2. Nghĩa là ở Thượng viện, tiếng nói của một cử tri Wyoming được khuếch đại lên gấp nhiều chục lần so với một cử tri California, không phải vì luật thiên vị cá nhân nào, mà vì đơn vị được đếm ở đây là bang, chứ không phải người.

Từ đó nảy sinh một hệ quả có thể tính trước: một liên minh cử tri tập trung ở các đô thị đông đúc có thể chiếm ưu thế ở Hạ viện, trong khi một liên minh trải mỏng qua nhiều bang thưa dân lại có thể chiếm ưu thế ở Thượng viện. Cùng một khối cử tri toàn quốc, nhưng khi bạn đổi cách đếm, đếm người hay đếm bang, bạn có thể đổi luôn cả kết quả. Hai viện nhìn vào cùng một quốc gia bằng hai chiếc kính khác nhau.

Chiếc đồng hồ nhiệm kỳ: cả một viện, nhưng chỉ một phần ba viện kia

Đây là bộ phận hay bị bỏ quên nhất, mà lại giải thích được nhiều nhất.

Toàn bộ 435 ghế Hạ viện được bầu lại mỗi hai năm; còn Thượng viện, do thượng nghị sĩ có nhiệm kỳ sáu năm, chỉ có khoảng một phần ba số ghế được bầu trong mỗi kỳ. Một trăm thượng nghị sĩ được chia thành ba “lớp” so le nhau, nên trong một kỳ bầu cử bất kỳ chỉ có chừng 33 hoặc 34 ghế Thượng viện có tên trên lá phiếu.

Hệ quả rất lớn. Ở Hạ viện, mỗi kỳ bầu cử là một cuộc “khám sức khỏe” toàn thân của tâm trạng cử tri toàn quốc, cả 435 ghế đều phơi ra trước làn sóng chính trị của năm đó. Ở Thượng viện thì không. Kết quả Thượng viện phụ thuộc nặng nề vào chuyện tình cờ bang nào tới lượt trong năm ấy. Nếu một phần ba số ghế đến hạn năm nay tình cờ nằm ở những bang vốn nghiêng về một đảng, thì dù cả nước đang có làn sóng ngược lại, làn sóng ấy vẫn có thể không đủ chạm tới đủ số ghế để lật thế cờ.

Nói cách khác: Hạ viện đo hiện tại, còn Thượng viện là chồng lớp của ba thời điểm khác nhau, một phần ba bầu năm nay, một phần ba bầu hai năm trước, một phần ba bầu bốn năm trước. Một cơ thể phản ứng nhanh ghép cạnh một cơ thể phản ứng chậm. Chúng lệch pha nhau, và chính sự lệch pha ấy được gài vào thiết kế một cách cố ý, để Thượng viện điềm tĩnh hơn, ít bị cuốn theo cơn nóng giận nhất thời của một mùa bầu cử.

Ai thực sự bước vào phòng phiếu: bài toán tỷ lệ đi bầu

Cho đến giờ ta vẫn nói “cùng một cử tri” như thể đó là một khối cố định. Nhưng khối ấy co giãn tùy năm , và đây là mảnh ghép thứ tư.

Ở Mỹ, người ta phân biệt hai loại năm bầu cử: năm bầu tổng thống, và năm “giữa kỳ” (midterm) rơi vào giữa nhiệm kỳ tổng thống. Khoảng cách về số người đi bầu giữa hai loại năm này rất lớn. Từ năm 1980, các kỳ bầu tổng thống có tỷ lệ đi bầu trung bình khoảng 63%, trong khi các kỳ bầu cử giữa kỳ chỉ khoảng 48%. Trung bình cứ chuyển từ năm tổng thống sang năm giữa kỳ kế tiếp là mất đi chừng 15 điểm phần trăm. Để hình dung độ dao động: kỳ giữa kỳ 2018 đạt 50,3%, kỳ 2022 đạt 46,4%, còn kỳ 2014 chỉ 36,4%, mức thấp nhất kể từ Thế chiến thứ hai.

Điều đáng nói không chỉ là bao nhiêu người đi bầu, mà là ai đi bầu. Khối cử tri của các kỳ giữa kỳ có xu hướng già hơn, ít đa dạng hơn, học vấn cao hơn và nặng tính đảng phái hơn so với khối cử tri của năm bầu tổng thống; cử tri dưới 30 tuổi, cử tri da đen và cử tri gốc Latinh đều đi bầu với tỷ lệ thấp hơn hẳn trong các kỳ giữa kỳ. Khi một phần lớn cử tri trẻ ở nhà, thành phần người thực sự bỏ phiếu đã khác đi. Và khi thành phần cử tri khác đi thì kết quả cho ra cũng khác đi.

Ghép chi tiết này với chiếc đồng hồ nhiệm kỳ ở trên, ta thấy một điều tinh vi: bản đồ Thượng viện tới hạn trong một năm giữa kỳ được quyết định bởi một khối cử tri hẹp hơn, già hơn, đảng phái hơn, trong khi những ghế Hạ viện ở các khu vực đô thị lại chịu ảnh hưởng của việc cử tri trẻ vắng mặt theo một cách rất khác. Cùng một quốc gia, cùng một ngày, nhưng “cử tri” của Hạ viện và “cử tri” của Thượng viện trong thực tế không hoàn toàn là cùng một tập hợp người.

Không phải một cuộc bầu cử, mà hàng trăm

Điều cuối cùng, và có lẽ khó thấy nhất với người quan sát từ xa, là: nước Mỹ không tổ chức một cuộc bầu cử toàn quốc. Cái mà báo chí gọi gọn là “kỳ bầu cử giữa kỳ” thực ra là 435 cuộc đua Hạ viện ở 435 khu vực riêng, cộng với 33–34 cuộc đua Thượng viện ở từng bang, cộng với khoảng ba mươi sáu ghế thống đốc, cộng với hàng nghìn ghế lập pháp tiểu bang. Tất cả diễn ra song song.

Mỗi cuộc đua ấy có ứng viên riêng, ngân sách riêng, những vấn đề địa phương riêng: một con đường hư ở hạt này, một nhà máy đóng cửa ở hạt kia, một ứng viên được lòng dân hay một ứng viên vướng bê bối. Không hề tồn tại một “lá phiếu toàn quốc” mà mọi người Mỹ cùng đánh dấu. Ở đây thể chế liên bang quay lại lần nữa, lần này ở khâu tổ chức: Hiến pháp (Điều I, Khoản 4) trao cho các tiểu bang quyền quy định “thời điểm, địa điểm và thể thức” bầu cử. Chính các bang, chứ không phải một cơ quan trung ương duy nhất, in phiếu, mở phòng phiếu, đếm phiếu. Nên “kỳ bầu cử Mỹ” là hàng trăm cuộc bầu cử địa phương được quản lý bởi năm mươi hệ thống khác nhau, rồi được cộng gộp lại thành một bức tranh quốc gia.

Khi ta hiểu điều này, câu hỏi ban đầu gần như tự tan biến. Nếu kết quả toàn quốc chỉ là tổng số của hàng trăm quyết định địa phương, được đo bằng hai thước đo khác nhau (đầu người và đầu bang), trên hai chiếc đồng hồ khác nhau (toàn bộ Hạ viện và một phần ba Thượng viện), bởi hai thành phần cử tri không trùng khít thì việc hai viện cho ra hai kết quả khác nhau không còn là nghịch lý. Đó là điều gần như phải xảy ra.

Kết: sự tách biệt ấy là tính năng.

Những người soạn Hiến pháp không hề muốn một cỗ máy trơn tru phản chiếu tức thì mọi cơn sóng dư luận. Họ muốn một cỗ máy có ma sát, một cỗ máy buộc “ý muốn của nhân dân” và “quyền lợi của các bang” phải cùng đồng thuận trước khi bất cứ điều gì thành luật. Trong The Federalist số 62, Madison xem việc đòi hỏi hai cơ quan riêng biệt cùng gật đầu là một lớp bảo vệ tăng thêm cho người dân, chống lại tham vọng nhất thời của bất kỳ phe nào.

Cho nên, khi ta thấy cùng một khối cử tri Mỹ tạo ra một kết quả ở Hạ viện và một kết quả khác ở Thượng viện, ta không đang chứng kiến sự rối loạn. Ta đang chứng kiến một nền cộng hòa hỗn hợp làm đúng công việc mà nó được sinh ra để làm: trả lời hai câu hỏi khác nhau, bằng hai giọng khác nhau, trong cùng một tòa nhà.

Tuệ Quang

Nguồn tham khảo

Împărtășește-ți dragostea
Tuệ Quang
Tuệ Quang
Articole: 4