Thử Thách Cho Đổi Mới Kinh Tế Lần Hai và Những Giới Hạn Khả Năng Thành Công của Việt Nam

Từ hơn một năm qua, CSVN đưa ra một quyết định quan trọng về sách lược kinh tế. Đó là sự “Đổi mới kinh tế” lần 2, với tham vọng đưa nền kinh tế đạt mức tiến bộ cao, nhanh chóng và bền vững trong cái gọi là “kỹ nguyên vươn mình”, trong tương lai 20 năm.

VN hô hào vang dội về chủ trương và sách lược mới lần nầy với sự tin tưởng và quyết tâm, trong định hướng và mục tiêu mới, sẽ đưa VN từ một quốc gia có thu nhập trung bình thấp hiện nay, lên một nước phát triển (developed country), có mức thu nhập cao.

Qua các tuyên bố, những bài diễn văn, và các nghị quyết của đảng, chiến lược “Đổi mới” lần 2 gồm hai phần chánh, thứ nhất là khắc phục các khó khăn trở ngại lớn trong quá khứ, thứ hai là xây dựng phát triển mạnh mẽ, và tự lực tự cường.

Mặc dù từ sau đổi mới lần thứ nhất tới nay, VN có đạt được một số thành quả khá. Nhưng thực tế còn quá nhiều khó khăn tồn tại làm cho kinh tế VN không bền vững, tổn thất lớn, lãng phí quá nhiều, hiệu suất kinh tế thấp, và nhiều bất công xã hội chưa từng thấy. Do vậy, “kỹ nguyên vươn mình” sẽ phải đối diện với nhiều khó khăn và thử thách.

Trong khi đó, mục tiêu và định hướng và chủ đích của “Đổi mới” lần nầy chỉ nhắm tới các lãnh vực và sự trạng thứ yếu, và bỏ qua những yếu tố căn bản cho phát triển, như một số nhà nghiên cứu đã góp ý, là chế độ chánh trị, là mô hình kinh tế, là vai trò của đảng và nhà nước can thiệp quá sâu, quá độc đoán vào kinh tế. Như vậy, lần này có thể nói là không hoàn toàn “đổi mới” đúng mức, mà là sắp xếp, dọn dẹp các vướng mắc, khai thông các tắt nghẽn, và cải thiện một số vấn nạn quản lý kinh tế, đặc biệt về nhân sự và luật lệ.

Lý do là vì sự hiện hữu của môi trường chánh trị, cùng với tập thể cầm quyền, và qua kinh nghiệm và trải nghiệm của quá khứ, nhiều người có cảm nghĩ không tin tưởng vào sự thành công của “đổi mới” lần nầy.

Con đường đi tới sẽ còn nhiều khó khăn và thử thách. Trong khi đó thì khả năng thực sự để thực hiện cuộc thay đổi đúng nghĩa bị nhiều giới hạn.  

Với góc nhìn như vậy, tôi xin góp một số ý kiền dưới đây.

Cách đây khoảng ba tháng tôi có bài khảo luận với tựa đề “Kinh Nghiệm từ bốn Hổ Kinh tế Á Châu và Mộng ước Khó Thành của Việt Nam”. Bài hôm nay là phần tiếp của cùng chủ đề.

Bài nầy gồm các mục: Tóm tắt Mục tiêu và Định hướng phát triển. Thử thách và khó khăn. Khả năng và điều kiện thành công của công cuộc” Đổi mới kinh tế”.

1.Tóm Lược Mục Tiêu Và Định Hướng “Đổi Mới Kinh Tế” Lần Hai.

Quan điểm chiến lược phát triển lần nầy được TBT Tô Lâm nói trong diễn văn tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ chí Minh ngày 31-10-2024 “Đích đến của kỹ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu” (trích đăng trong Tập chí Cộng sản).

1.1 Mục tiêu và Chỉ tiêu “Đổi mới lần 2”

Qua các tuyên bố, các diễn văn của TBT Tô Lâm và qua các bài viết hay tài liệu học tập của các cơ quan  CSVN, một số chỉ tiêu đề ra được tóm tắt trong hai kế hoạch:

Kế hoạch ngũ niên 2026-2030

Xuất số phát triển: 10%-12%/năm. Chỉ số quá cao. Ngân hàng Thế giới tính chỉ từ 6,3-6,8%. Trung bình 20 năm qua VN đạt tỷ suất 6.5%-7%

Thu nhập đầu người (per capita):  Đến năm 2030 sẽ đạt $8500 mỹ kim, Hiện nay là $4.500. Nếu so với các nước Đông nam Á thì hiện nay VN kém rất xa Singapore, Nhật, Nam Hàn và Đài Loan. VN chỉ hơn chút Cambochia, Lào, và Miến Điện.

Khu vực tư doanh nội địa (Theo Nghị quyết 68/NQ ngày 4/5/2025 của Bộ Chánh trị). Đến 2030 sẽ có 2 triệu xí nghiệp tư. Hiện nay có một triệu và đóng góp 50% GDP (Tổng sản lượng). Và sẽ có 20 công ty có tầm cở chuổi cung ứng toàn cầu.

Kế hoạch 2030-2045

Đến 2045 sẽ có 3 triệu xí nghiệp tư nội địa. Khu vực tư doanh sẽ đóng góp 60% GDP

Các công ty tư sẽ lớn mạnh hơn, và có vị thế quốc tế nhiều hơn.

Phấn đấu tới 2049 (Năm CSVN nắm chánh quyền), VN sẽ có 200 công ty có tầm cở quốc tế và có khả năng tham gia vào các chuổi cung ứng thế giới.

Đến năm 2049, VN sẽ vào trong nhóm quốc gia phát triển (delepopped countries), nền kinh tế bền vững, có mức thu nhập cao, là quốc gia giàu mạnh.

Khu vực nhà nước. Theo Nghị định 79 ngày 24/01/2026. Mục tiêu cải đổi gồm: Chấn chỉnh quốc doanh, đầu tư công và bộ máy công quyền.

Về tinh giản Bộ máy công quyền: Giảm bớt 13 Bộ, 500 bộ phận trong các Bộ, 190 văn phòng dịch vụ công, 4 Ủy ban.

1.2. Định hướng và sách lược các lãnh vực cải đổi

Khu vực tư doanh:

Qua Nghị quyết 68 (4/5/2025) của Bộ Chánh trị, về khu vực tư doanh được đưa lên tầm mức quan trọng nhất cho phát triển. Tức là khu vực tư có tỷ suất lớn nhất của tổng sản lượng quốc gia. Mà hiện nay tỷ suất nầy là 50%, và sử dụng 80% lao động. Định hướng cho khu vực này là: Cần tăng thêm vốn, có luật lệ rõ ràng, dễ áp dụng, cần huấn luyện nhân công có tay nghề, và cần cải thiện quản lý để gia tăng hiệu năng.

Khu vực kinh tế nhà nước:

Qua Nghị quyết 79 (24/01/2026) của Bộ Chánh trị, khu vực nầy có hai thành phần: kinh tế quốc doanh, mục tiêu là sẽ được củng cố và cải thiện để đóng vai trò đầu tàu, dẫn dắt kinh tế tư nhân. Các biện pháp chánh yếu là cải sửa hiệu quả, giảm tình trạng lỗ lã và đục khoét của quá khứ. Và thứ hai là đầu tư công phải đựơc cải sửa hai việc phân bổ ngân sách một cách chính xác các dự án công, hầu tránh sự lãng phí quá lớn trong thời kỳ đổi mới 1. Cùng với việc cải thiện việc quản lý, và chống tệ trạng tham nhũng.

Định hướng sửa đổi nhắm đến các lãnh vực:

Trong đó các lãnh vực nêu ra, và một số lãnh vực không nói đến hay né tránh sự thay đổi quyết liệt.

(i.) Sách lược và mô hình kinh tế

Từ lần đổi mới thứ 1, VN có mô hình “Kinh tế thị trường định hướng XHCN”. Đó là sự áp dựng một phần kinh tế tự do, nhưng bị kềm kẹp chủ đạo bởi kinh tế tập trung XHCN. Và nền kinh tế có 5 thành phần trong đó có tư doanh, nhưng kinh tế nhà nước vẫn là chính. Lần nầy mô hình đó căn bản không thay đổi. Chỉ có phần nhỏ là cải chỉnh là tư doanh sẽ được hỗ trợ mạnh hơn để đóng góp lớn nhất cho phát triển. Khu vực kinh tế nhà nước, trong có quốc doanh, bị lỗ lã mất mát quá lớn từ 50 năm qua, đáng lẽ lần nầy phải giải tỏa mạnh hơn, thì lại cải sửa tệ trạng để nó vẫn đóng vai trò dẫn dắt tư doanh.

(ii) Nhân sự.

Lần nầy chú trọng mạnh mẽ nhất là nhân sự, nghĩa là con người liên hệ tới hoạt động kinh tế cả hai khu vực công và tư. Những thiệt hại to lớn và mất mất quá nhiều của nền kinh tế chánh yếu là do nhân sự kém hiệu năng và không lương thiện. Nay sự cải chỉnh nhân sự là ưu tiên cao nhứt. Trong đó có huấn luyện, đào tạo, cải tiến lương bỗng, luật lệ và kỹ luật thích đáng với viên chức bộ máy quản lý kinh tế công. Khu vực tư thì huấn luyện đào tạo công nhân có chuyên môn, đạt tiêu chuẩn quốc tế.

(iii) Định chế và luật lệ

Đây là hệ thống luật pháp XHCN. Quan niệm và các xây dựng luật pháp hoàn toàn khác luật pháp thông thường của quốc gia có tự do dân chủ. Cho nên lần nầy sự cải chỉnh luật lệ định chế từ lâu là một rừng luật lệ, nhưng không hiệu quả và bị lợi dụng. Nay cải thiện cũng là cách làm giống như cũ, bớt số lượng luật lệ và đơn giản hơn để ít bị lạm dụng.

(iv) Tinh giản và dân chủ hóa bộ máy công quyền

VN đã có sắp xếp lại bộ máy công quyền. Lý do là để tinh giản nhân sự và để giảm bớt phần chi ngân sách. Điều nầy hợp lý. Nhưng điều quan trọng là hai bộ máy quyền lực song song là đảng và nhà nước, lần nầy khuyng hướng củng cố đảng nhiều hơn.

(v) Tài chánh và tiền tệ

Tài chánh, tiền tệ và tín dụng là vấn nạn to lớn nhất làm cho nền kinh tế lãng phí, bất ổn và bất công. Nó làm cho nền kinh tế không phát triển có hiệu quả tốt và có tham nhũng kinh khủng như mọi người biết. Nay có một số cải sửa nhằm tới như phân bổ tài chánh, ngân sách công một cách kỹ hơn, đúng đắn hơn cho quốc doanh cũng như cho các dự án công.

(vi) Khoa học kỹ thuật

Một trong các lãnh vực được chú trọng cải tiến là khoa học kỹ thuật. Vì VN mưốn trong 20 năm tới sẽ có nền công nghiệp tiên tiến và theo kịp thời đại mới trên thế giới, nhứt là công nghiệp kỹ thuật số. Điều nầy bắt buộc cho mọi quốc gia muốn tiến đến mức thu nhập cao. Và vì trong 30 năm hội nhập toàn cầu, VN chỉ có làm gia công cho các công ty lớn từ ngoài vào.

(vii) Kinh tế đối ngoại

Kinh tế VN lệ thuộc quá nặng vào đầu tư ngoại quốc và xuất cảng. Nhưng lần nầy không thấy nói nhiều trong sách lược và mục tiêu cải cách lãnh vực quan trọng nầy.

Tóm lại mục tiêu đề ra khá cao, nhiều tham vọng. Các đổi mới chỉ nửa vời, chỉ cải đổi các phần nhỏ trong quản lý kinh tế, hơn là đổi mới mạnh mẽ và tận gốc về mô hình kinh tế, thành phần kinh tế, về vai trò dẫn đạo của quốc doanh, và quyền công hữu nhà nước nắm tài sản quốc gia.

Đi xa hơn, VN định hướng sẽ phát triển ngang bằng 4 “hổ kinh tế” trong 20 năm tới.

1.3.  Ẩn ý che dấu ngụy trang cho “Đổi mới lần 2”

Sách lược và định hướng đổi mới lần 2 vừa được tóm tắt là từ trên giấy tờ, trong lời nói của sách lược và và những biện pháp thực thi. Nhưng qua bản chất thực của chế độ CS trong quá khứ, qua những gì đã xảy ra, chúng ta có thể suy biết thêm ý đồ và mưu tính bên trong của CSVN.

Yêu cầu đổi mới kinh tế thực sự.  “Đổi mới” lần thứ nhất hồi 1986 vì yêu cầu thay đổi để thoát hiểm họa sụp đổ của nền kinh tế XHCN truyền thống. Sau 40 năm, VN đạt được một số kết quả, nhưng không bền vững, chỉ là số lượng, không có chất lượng.

Vì vậy trong quá khứ, đã có nhiều đề nghị, trong đó có World Bank, VN nên đổi mới lần hai sâu rộng hơn để kinh tế được bền vững, hài hòa và toàn diện.

Nhưng lần nầy VN  thay đổi không đúng mức, không đúng thực, và có tính “ảo vọng chánh trị” hơn là đúng yêu cầu phát triển kinh tế.

Lý do và mưu tính thầm kín về “đổi mới” lần 2. Yêu cầu phải có sự phát triển nhanh hơn, cao hơn và bền vững. Đó mới chỉ là “tuyên truyền và ảo tưởng của chế độc độc tài”.

Sự thay đổi không đúng mức và không có ý nghĩa, thì kết quả không tốt như người dân mong đợi. CSVN mưu tính vẽ ra bức tranh kinh tế xã hội xinh đẹp chỉ để củng cố đảng và làm giàu cho đảng viên.

Bởi các lý do:

(i) VN không dám bỏ hay cải sửa chế độ CS mà chỉ cải chỉnh thể chế, luật lệ về điều hành kinh tế. Và củng cố vai trò và quyền hạn của chế độ độc tài nhiều hơn.

(ii) Sách lược và Kế hoạch đổi mới chỉ xào nấu những cái cũ,  không dám thay đổi cơ cấu và thay đổi cách vận hành. Mục đích chỉ là cho dân có cảm tưởng tệ hại cũ bỏ đi, tương lai sẽ khá hơn.

(iii) Khu vực kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò rất quan trọng. Đầu tư công tăng thêm ngân sách. Quốc doanh vẫn còn vai trò chỉ đạo, dẫn dắt tư doanh. Mục đích thầm kín việc củng cố và thêm sức cho khu vực kinh tế nhà nước là giữ sức mạnh cho đảng theo đúng nguyên tắc XHCN . Thực tế là để chia chác tiền công quỹ, dễ cấu kết tư sản đỏ, và để hạn chế áp lực của khu vực tư.

(iv) Thich nghi mới, bộ máy quản lý kinh tế được đặt dưới sự chỉ huy và kiểm soát trực tiếp nhiều hơn trước của đảng. Kế hoạch cải đổi mới cũng không có nói đến sự tham gia của dân chúng, của Hội đoàn dân sự chân chánh vào việc hoạch địch và kiểm soát hoạt động kinh tế, vì CSVN càng ngày càng kiểm soát chặt hơn dân chúng.

(v) Mưu tính khác là CSVN luôn lợi dụng công sức, tài sản, kinh nghiệm dân nên đề cao tư doanh.

(vi) VNCS né tránh cải đổi mô hình kinh tế cách sâu rộng là để giữ chế độ độc tài toàn trị và để tỏ ra trung thành và gắn chặt với Trung Cộng.

(vii) Hô hào mạnh mẽ “đổi mới” lần 2, CSVN muốn nói với mọi người là lãnh tụ mới có tinh thần cải cách, muốn thay đổi để đưa VN qua giai đọan mới có nhiều tiến bộ hơn nữa, thích nghi tình hình và yêu cầu mới, vì dân vì nước nhiều hơn. Điều nầy có thể làm cho nhiều người bớt lo sợ  “tính công an trị” của chế độ, dưới thời TBT Tô Lâm.

2. Khó Khăn Và Thử Thách Việt Nam Sẽ Phải Đối Diện

Qua mục tiêu, sách lược và định hướng, qua tư duy và mưu đồ “đổi mới” lần nầy. Và qua thực trạng kinh tế, kế hoạch đổi mới, VN sẽ chắc chắc còn phải đối diện những khó khăn và thử thách lớn vốn tồn tại từ lâu của một nền kinh tế nhiều sai phạm, không bình thường và không bền vững.

 2.1. Các khó khăn tồn tại  

(i)Về chế độ chánh trị. Cái khung chế độ XHCN vẫn còn giữ nguyên. Từ đó mô hình và sách lược kinh tế không đổi thay. Đó là trở ngại căn bản nhất.

(ii)Về lãnh đạo và nhân sự điều hành kinh tế vẫn như cũ, chỉ sắp xếp, đổi người chớ không đổi “lò đào tạo”, nên bản chất, cách suy nghĩ, cách hành động độc đoán, hoang tưởng, thiếu đạo đức chánh trị, những thứ đó không thể “đổi mới” được.

(iii)Về mô hình kinh tế. Không có nền Kinh tế thị trường thực sự là trở ngại lớn trong kinh tế đối ngoại.  Nền kinh tế kiểu nầy luôn bị kinh tế nhà nước áp đảo. Tư doanh không có đủ thế và lực để tiến hành sự cân bằng và công bằng trong các hoạt động kinh tế. Trừ loại tư sản thuộc nhóm lợi ích, họ cấu kết với viên chức, thực tế họ hướng dẫn cả hoạch định kinh tế

(iv)Về cơ cấu kinh tế. Khu vực kinh tế. Khu vực nhà nước nắm giữ tuyệt đối tiền bạc, viện trợ, tự biên tự diễn nhiều dự án, càng lớn càng tốt. Mục đích là để tham nhũng (Đầu tư công mất mát 20% công quĩ bỏ ra, theo WB). Trung bình gần đây, đầu tư công tới khoảng 20 tỷ đô/năm. Tương lai khu vực kinh tế công lại được củng cố hơn, nên thiệt hại càng nhiều hơn. Khu vực tư doanh thì vốn yếu kém, ở trong hiện trạng kinh tế khó khăn, hàng trăm ngàn cơ sở tiểu thương đóng cửa trong hai năm qua. Còn nông dân đông đảo, nhưng không cơ hội và điều kiện khá hơn. Sự giúp đỡ của Nhà nước rất nhỏ và chỉ hình thức.

(v)Về Tài chánh tín dụng. Lãi xuất nay lên cao. Tư doanh và nông dân có nhiều khó khăn về vay mượn, trong lúc tư sản đỏ được cấp tín dụng quá lớn. Công nợ càng tăng. Nợ xấu của quốc doanh chiếm tới 75% tổng số. Ngân sách thâm hụt, dù thuế luôn tăng cao. Chánh sách bơm tiền ra để phát triển và để có suất số tăng trưởng cao rất nguy hiểm nêu tiền bơm ra không đến các nơi tạo ra sản phẩm và dịch vụ thật sự. Trường hợp này có thể làm lạm phát gia tăng, kinh tế còn bất ổn hơn.

(v)Về quản lý kinh tế. Vấn nạn lớn khác là luật lệ quá rắc rối, không hữu hiệu cho sự phát triển. Yếu kém lớn nhất thứ hai về quản lý là nhân sự. Viên chức cán bộ không  hiệu năng và không đạo đức, tham nhũng khủng khiếp và bất trị. Lần nầy dù dự liệu cải cách mạnh về nhân sự, nhưng không dễ có kết quả, vì hệ thống, tổ chức chọn lựa viên chức đảng và nhà nước vẫn như cũ.

(vi)Về kinh tế đối ngoại. Nền kinh tế quá lệ thuộc ngoại bang. Kinh tế chánh yếu sống nhờ xuất cảng và đầu tư ngoại quốc (FDI).  Hàng xuất từ FDI chiếm 75% tổng xuất cảng. Tiềm lực và khả năng tư doanh nội địa và quốc doanh khó triển vọng sớm có vị thế quốc tế. Mặt khác, VN lệ thuộc quá rộng lớn vào TC về: nhập cảng, viện trợ, đầu tư, thầu công trình, dầu, sẽ không thoát được. Chiến tranh mậu dịch Mỹ Trung có ảnh hưởng lớn cho VN, tiêu cực cũng như tích cực.

2.2. Thử thách nghiêm trọng trong tương lai

Tóm lại, sau 40 năm kinh tế đổi mới, tới nay hầu hết các khó khăn nghiêm trọng vẫn còn. Khả năng giải quyết của CSVN đã tỏ ra không hiệu quả vì nhiều hạn chế từ tư duy và hành động. Đó là những thử thách, cản trở lớn cho phát triển kinh tế trong tương lai.

3. Khả Năng Và Điều Kiện Thành Công Cho “Đổi Mới Lần 2”

Nguyên do của “đổi mới” lần 1 và lần 2 rất khác nhau. Lần đầu (1968) là để “thoát chết”, sau 10 năm nền kinh tế XHCN truyền thống sụp đổ hoàn toàn. Đó không phải là tình trạng kinh tế của “thời bao cấp” mà là một khẳng định “kinh tế cộng sản” là tai họa, không cách nào cứu chữa.

Còn đổi mới lần 2 thì nguyên do là tiếp tục khai thác các tiến bộ của 40 năm trước, đồng thời cải đổi một số lãnh vực có nhiều khuyết điểm. Mục tiêu và định hướng lần này tương đối rõ ràng hơn, có tính điều chỉnh với nhiều tham vọng trong tình hình mới.

Nhưng vì mục tiêu và định hướng quá sức, quá cao xa, mang tính chất “ảo tưởng XHCN”. Mặt khác, một thực tế đầy dẫy khó khăn và nhiều tiêu cực vẫn đeo đẳng năng lực về tư duy và vật thể để thực hiện “đổi mới”.  Câu hỏi được đặt ra là VN có đủ khả năng để thành công trong lần đổi mới này?

Có hai phần nhỏ được nêu ra: Khả năng đạt mục tiêu và chủ đích của đổi mới, và khả năng trở thành “hổ kinh tế”.

3.1. Khả năng đạt mục tiêu và chủ đích của “đổi mới” lần 2

Kế hoạch và định hướng “Đổi mới” lần 2 chỉ mới bắt đầu có mấy tháng. Có thể là quá sớm để nói đến sự thành bại. Điều nầy đúng với trường hợp thông thường tại nhiều nước. Nhưng VN XHCN thì khác, quá khứ và hiện tại có thể cho sự tiên liệu cho tương lai.

Vấn đề đặt ra là khả năng thực sự của VN là gì? Thực lực đó có từ đâu và được sử dụng thế nào, bị lạm dụng, mất mát bao nhiêu bởi những sai phạm cố ý và sự yếu kém về khả năng vận hành của đảng và nhà nước?

Sau đây là các cản trở và hạn chế sự thành công cho “Đổi mới kinh tế”:

(i) Môi trường thuận lợi cho phát triển

Kinh nghiệm tại nhiều quốc gia có sự phát triển tốt đẹp, thì môi trường phát triển là yếu tố hàng đầu. Môi trường nầy thể hiện qua:

Thứ nhứt là về chánh trị, một thể chế có tự do dân chủ, dù chưa đủ tốt, nhưng ít nhiều cần phải có. Môi trường chánh trị không thể thiếu vắng, hay giả tạo, ngụy trang, như trong chế độ tài toàn trị. Sự cản trở và tắc nghẽn nầy là nguồn gốc, là đầu mối của các bế tắc khác. VN vẫn đi theo con đường cũ, như trong diễn văn đọc tại Học viện chánh trị HCM, 2024 Tô Lâm khẳng định chế độ chánh trị của VN là Xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai là môi trường xã hội văn hóa, khi các giá trị văn hóa bị suy tàn, lòng người ly tán, nhiều người chỉ vì quyền lợi riêng tư, cướp đoạt, lừa đảo, hối mại quyền thế coi như việc bình thường của cuộc sống. Xã hội như thế không thể tạo được sức mạnh tổng hợp cần thiết để vượt qua khó khăn và đạt sự phát triển tốt. Sự biến thoái văn hóa là nỗi đau lâu dài cho VN.

(ii) Nguyên tắc và trách nhiệm lãnh đạo đất nước và tinh thần phục vụ của viên chức

Đối với bất kỳ quốc gia đang phát triển nào thì nguyên tắc và khả năng lãnh đạo của nhóm hay đảng cầm quyền rất quan trọng. Vì rằng tại các quốc gia này sự hiểu biết chánh trị và sự tham gia chánh trị của dân chúng rất giới hạn. Tư tưởng và hành động của nhóm lãnh đạo, chỉ huy đi sai đường, với suy tư theo giáo điều, lệch lạc, theo lối mòn cũ, về chủ trương sách lược, về biện pháp thực hiện, đưa tới tai họa to lớn. Quá khứ VN đã nói lên điều đó.

Thứ hai là tinh thần phục vụ của viên chức cán bộ không thay đổi. Coi việc thi hành công vụ là quyền, chớ không phải là bổn phận. Có chức vụ là có lợi lộc. Cho nên việc cấu kết tham nhũng là chuyện bình thường của cả một hệ thống chánh quyền. Dù đã có nhiều viên chức bị tù, nhiều vụ tham nhũng lớn được phanh phui, và còn rất nhiều vụ không nêu ra. Nhưng rồi sau đó tệ trạng này lại tiếp tục, cứ thế âm thầm xảy ra, Làm sao thay đổi được cả hai bộ máy to lớn? Đó là một phần làm niềm tin của dân bị sói mòn.

Ngoài ra, cái quan niệm về luật pháp, tinh thần trọng pháp của chế độ “dân chủ pháp quyền” XHCN, cần nghĩ lại. Luật pháp dùng để bảo vệ quyền lợi dân thay vì để bức ép dân. Trách nhiệm về mất mất quá lớn tài sản quốc dân cần phải qui chiếu rõ ràng, không phải chỉ cá nhân mà cả cơ quan gây ra sai phạm.

(iii) Sự tận dụng sức lực tổng hợp cách có hiệu quả

Một trong những nguyên tắc cần cho phát triển kinh tế là sự tận dụng sức lực và tài nguyên quốc gia. Vì tài nguyên đất nước gồm tài nguyên thiên nhiên, là con người, là kiến thức và kinh nghiệm về khoa học kỹ thuật, là vị trí địa kinh tế có giới hạn. Các yếu tố đó đều khan hiếm hay có giới hạn. Cần phải sử dụng một cách có hiệu quả nhất, không thể phí phạm, coi như của trời cho, mà tiêu xài phung phí hay chiếm đoạt của công thành tài sản tư. Nhứt là yếu tố con người, cần phải được huấn luyện trau dồi, tận dụng một cách công bằng hợp lý, có hiệu năng cao, không thể lạm dụng như một công cụ. Làm như thế, sự lạm dụng và lãng phí quá lớn, trong khi đất nước còn khá nghèo. Khối lượng nhân lực đông và trẻ là một ưu điểm, nhưng không tận dụng tốt. Không đủ trường dạy nghề, nhất là tại nông thôn. Công nhân VN có hiệu năng thấp nhất Đông nam Á. Sự sử dụng kém hiệu quả về khoáng sản, dầu lửa không tự tinh lọc mà giao hết cho TC. Sự phí phạm về tài chánh công, ngân sách từ hàng tỷ mỹ kim gần như liên tục xảy ra. Theo World Bank thì các vụ đầu tư công bị mất mát khoảng 20% tổng số chi, vào khoảng 4-5 tỷ/năm.  Tín dụng nhà nước cho vay bừa bãi, không nhắm vào hiệu quả đầu tư và mục đích kinh doanh, do đó nợ không hoàn trả cao.

Qua nhiều cuộc nghiên cứu và thực tế cho thấy VN không hữu hiệu trong việc sử dụng sức lực tổng hợp cho phát triển của VN. Thậm chí còn sử dụng sai, gây ra quá nhiều hao hụt, phí phạm.

(iv) Hoạch định ưu tiên thực tế mục tiêu và định hướng  

Cách tổng quát, nhu cầu đất nước thì quá lớn, mà phương tiện thì hạn hẹp. Cho nên không thể nào hoạch định bừa bãi. Không thể vì “ảo tương chánh trị”, mà đặt ra nhiều chỉ tiêu, nhiều dự án không ưu tiên, hay để nâng lên các số thống kê, hoặc không thích hợp khả năng hoàn cảnh. Sự phát triển như vậy chẳng những không kết quả mà có khi có số âm. Điều nầy như mọi người biết đó, ngay từ khi chiếm miền Nam. Cũng như nhiều dự án rất lớn như Vinasin mất 2 tỷ mỹ kim, Vinalines mất hơn một tỷ, nhiều khu công nghiệp bỏ hoang, các đặc khu Phú quốc, Vân đồn, Cần giờ, nhiều khu cao ốc to lớn, tiền bỏ ra là máu của dân của nước, nhưng hiệu quả kinh tế rất giới hạn.Trong lúc đó, phân bón, thuốc sát trùng, tơ sợi rất cần cho công nghiệp yểm trợ nông nghiệp và xuất cảng, thì phải nhập từ Trung cộng hàng chục tỷ mỗi năm.

(v) Khả năng và ý chí khắc phục khó khăn của bộ máy đảng và nhà nước

Với mô hình chánh trị và kinh tế mà theo đó sự can thiệp quá sâu rộng của hai bộ máy đảng và nhà nước, mà nguyên tắc và chủ đích của chế độ CS là để xóa bỏ bất công. Cơ chế đó đòi hỏi đảng và đảng viên phải có sự thành thật, và lương thiện tối thiếu và khả năng làm tốt và hiệu quả khi một mình tự thu tóm gần hết mọi loại tài sản, rồi tự mình phân phát, chi xài mọi thứ tiền bạc cách vô tội vạ. Kinh nghiệm cho thấy tại nhiều nước, nhất là nước độc tài chuyên chính, không có nơi nào đạt kết quả tốt cả. Vì chánh yếu là khả năng và đạo dức của viên chức cán bộ không thể nào khá so với khu vực tư.  Thực trạng khả năng và quản lý ở VN đã hiện rõ tình trạng yếu kém, bê bối trong khắp mọi ngành, mọi nơi. Sự thay đổi rất khó, thời gian không thể vài ngũ niên, mà lâu hơn và phải có hoàn cảnh tốt hơn.

(vi) Niềm tin và sự ổn định quốc tế

Sau cùng, yếu tố cần cho sự thành công của VN là yếu tố quốc tế. Vì ai cũng biết kinh tế VN có được phát triển trong mấy chục năm qua chánh yếu là nhờ thị trường và đầu tư ngoại quốc. Điều nầy có nghĩa là nếu những thuận lợi của VN hoặc thuận lợi của đối tác ngoại quốc bị sức mẽ, thì kinh tế VN bị suy yếu ngay. Trong tình trạng kinh tế không bền vững và mất cân đối của VN và trong tình hình thế giới nhiều biến động như hiện nay, thì nguy cơ suy sụp của kinh tế VN là có khả năng xảy ra, VN thấy điều đó, nhưng khả năng chủ động đối phó ở mức thấp. Đặc biệt nghiêm trọng là sự lệ thuộc quá chặt với TC.

Tóm lại, khả năng đạt thành công cho lần đổi mới thứ 2 nầy có nhiều hạn chế, do yếu tố khách quan cũng như chủ quan. Mặc dù VN có một số thuận lợi, nhưng ít hơn yếu tố bất lợi. nếu không gì thay đổi mạnh, tận gốc thì tương lai kinh tế VN cũng có tiến bộ, nhưng không bền vững và thiếu phẩm chất.

3.2. Khả năng đạt ước mơ “Hổ kinh tế”

Một trong các định hướng của “Đổi mới lần hai” là VN hy vọng sẽ bắt kịp 4 “Hổ kinh tế”, gồm Singapore, Đại hàn, Đài Loan và Hong kong. Sự phát triển thần kỳ  của các Hổ kinh tế là mẫu mực, là gương sáng mà nhiều quốc gia muốn noi theo.

Tổng quan: Các nét chung của 4 Hổ kinh tế :

4 Hổ Kinh Tế Á Châu: Nam Hàn – Đài Loan – Singapore và Hồng Kông

Cả 4 quốc gia khởi đi từ thập niên 1960, từ nước nghèo, thu nhập đầu người từ $500- $900. Nhưng sau 30 năm, kinh tế phát triển vượt bực. Suất số phát triển trung bình 10%, có lúc lên 12%. Các quốc gia nầy lúc đầu dựa trên kinh tế đối ngoại, nhưng sau dần phát triển vững chắc khu vực kinh tế tư doanh trong nước.  Ba mươi năm sau các Hổ kinh tế đã trở thành quốc gia có kinh tế phát triển, thu nhập đầu người trên $30.000. Cho tới 2024, thu nhập nầy rất cao, từ $51.000 (Đài loan), $56.000 (Đại Hàn), $82.000 (Singapore), $48.000 (Hong kong). Nền kinh tế của 4 quốc gia nầy bền vững cho tới nay. Nhờ đó người dân có cuộc sống rất cao và tốt đẹp về vật chất lẫn tinh thần, được nhiều ngưỡng mộ trên thế giới.          

Yếu tố thành công của 4 Hổ kinh tế có thể tóm tắt:

(i) Chánh thể Tự do Dân chủ và Nhân quyền. Dù có một số ít khác biệt, nhưng căn bản cả 4 hổ kinh tế đều có chế độ tự do dân chủ thực sự

(ii) Viên chức nhà nước có hiệu năng cao, có kỹ luật, và lương thiện. Sự tuyển chon không ưu tiên cho đảng viên đảng cầm quyền, mà căn cứ vào tài đức. Có kỹ luật nghiêm minh.

(iii) Giáo dục được coi trọng nhất và có tiêu chuẩn rất cao. Nhân sự được đào tạo có chất lượng và thích hợp với yêu cầu phát triển.

(iv) Có được sự tin tưởng và hợp tác của dân chúng. Chánh quyền và người dân có cùng một hướng đi, và đặt quyền lợi quốc gia dân tộc lên trên hết.

(iv) Các quốc gia này nhờ môi trường chánh trị đúng đắn, và sự cởi mở, thành thật trong bang giao quốc tế nên tạo được uy tín quốc tế .

Các bài học từ các Hổ kinh tế cho VN

Thành quả kinh tế lớn lao vang dội của các Hổ kinh tế trong 60 năm qua là kết quả của suy tư và hành động đúng đắn của dân và chánh quyền. Có nhiều quốc gia muốn đi theo gương đó, nhưng chưa có nước nào đạt tới được.

Đối với VN, các ưu điểm hay yếu tố quyết định thành công của các hổ kinh tế là những tiêu cực của VN XHCN.

Từ kinh nghiệm thành công đó có thể rút ra một số bài học cho VN:

(i) Sách lược kinh tế: Cách can thiệp của chánh quyền. Nhà nước can thiệp khá mạnh chỉ là để hỗ trợ tư doanh. Khi tư doanh đủ mạnh can thiệp giảm dần. Sự can thiệp đó từ chánh quyền, không phải từ giáo điều, nguyên tắc cứng rắn của chế độ CS.

(ii) Vận hành và quản lý kinh tế: Nhân sự có hiệu quả, có trách nhiệm, kỹ luật, và đạo đức. Thành thật và tôn trọng luật lệ và tuân thủ nguyên tắc quốc tế.

(iii) Tinh thần dân bản. Dân tự nguyện hợp tác, vì quyền lợi dân trên hết, và mọi kế hoạch, biện pháp được minh bạch. Viên chức với tinh thần phục vụ hơn là ban bố.   

Tóm lại khả năng thành công, đạt các mục tiêu và định hướng của “đổi mới lần 2” của VN rất ít hy vọng. Nhiều thử thách phải đương đầu. Còn tham vọng trở thành “hổ kinh tế” thứ 5 sau 20 năm nữa thì càng khó khăn hơn. Có thể đó là ảo vọng, trừ khi VN có thực hiện cuộc thay đổi mạnh mẽ và toàn diện.

Tôi nghĩ đó là mong ước chánh đáng của dân chúng Việt Nam.

Nguyễn Bá Lộc

Cali 20/05/2026

Împărtășește-ți dragostea
Nguyễn Bá Lộc
Nguyễn Bá Lộc
Articole: 2