
Khu Tân Định có đường Trần Tấn Phát, đó là con hẻm nối hai đường Hiền Vương và Phan Thanh Giản. Giữa hai dãy nhà dân cư thấp, vụt nổi lên một building cao gần chục tầng, chứa đầy dân kinh tế mới. Họ là những người bị cưỡng bách hoặc do sự vận động của chính quyền cộng sản lên cao nguyên hoặc vùng rừng núi khai phá trồng trọt sinh sống, nhưng vì không biết nghề làm rẫy, vì đất đai thiếu nước, khô cằn, vì không được hướng dẫn, giúp đỡ, họ hoàn toàn thất bại nên lại kéo nhau về thành phố.
Building nầy trước là của một tay tư bản xây cho người Đại Hàn, Mỹ, Phi Luật Tân mướn trong thời còn chiến tranh. Sau bảy lăm y bỏ chạy ra nước ngoài, dân kinh tế mới kéo vào chiếm ngụ. Phòng nào cũng trống rỗng, cửa nẻo bị gỡ đem bán hoặc làm củi nấu, cả đến cái bàn ngồi cầu tiêu cũng bị gỡ đem ra chợ trời, chỉ mấy sợi dây điện luồn trong tường bê tông là còn. Dù sao đối với họ, có chỗ ngủ mà không bị mưa nắng là quá tốt rồi. Nhưng rồi một hôm, công an quận ba xuống lùa tất cả ra khỏi building, để sửa sang lại cho ngoại kiều, Việt kiều mướn. Thế là họ phải ra ngủ lề đường.
Trước ngày tôi đẩy xe bánh mì thịt nguội ra bán ở góc đường Phan Thanh Giản, Duy Tân, cái xã hội đầu đường xó chợ đó đã thành hình từ lâu. Một buổi sáng, tôi đang lui cui xắt thịt, chả, bán cho khách thì có một đứa đến đứng bên cạnh, nó mặc áo lính cũ, quần đùi, tóc cắt ngắn. Vì bận khách, tôi không để ý, tưởng nó chờ đến lượt mình, đến khi có hai chị đàn bà, vẻ mặt coi bộ bất lương, nghênh ngang bảo.
– Cho hai ổ bánh mì ba tê chả.
Tôi cảm thấy áo sau lưng bị giật mạnh, rồi giật tiếp vài cái nữa. Tôi sinh nghi bèn nói.
– Hai ổ năm nghìn đồng (thời giá năm 2000), tiền đâu?
– Bộ ông tưởng tôi không có tiền à?
– Tiền trao cháo múc chị ơi, ai cũng phải trả tiền trước tôi mới bán.
Chị đàn bà trở mặt.
– Đ.m. khi người hả, tao đéo thèm mua nữa!
Thế là hai người bỏ đi. Khi hết khách, tôi quay lại thấy nó đứng lơ đãng nhìn lên trời, tay vòng trước ngực.
– Mầy mua bánh mì?
– Tiền đâu mua!
– Khỏi tiền. Mầy báo động lúc nãy, tao khỏi mất hai ổ bánh, bây giờ cho mầy một ổ.
– Còn lâu ông mới khỏi mất hai ổ. Nhiều hơn nữa đó cha nội. Ông tưởng nó ôm bánh của ông nó chạy có? Nó đòi thêm tiền nữa. Lúc đứng chờ mua nó đã dòm vô hộc tiền, nó đã thấy mấy tờ năm nghìn của ông. Bán cho nó xong, nó bảo đã đưa tờ năm nghìn cho ông rồi, ông phải thối cho nó bốn nghìn, có con em nó đứng bên cạnh làm chứng, ông không đưa tiền, chị em nó xúm lại dợt cho ông một tăng, xe bánh mì của tiêu tùng mà ông còn bị phù mõ nữa đó. Nghề của tụi nó mà!
– Được rồi, cám ơn, bây giờ tao hỏi mầy hai câu. Mày muốn mấy ổ đây? Và mầy là con gái hay con trai?
– Con gái, ông hỏi chi dzậy? Định thả dê hả?
– Không đâu, thấy mầy giống con trai tao hỏi chơi thôi.
– Xạo hoài. Bộ ông không thấy ngực tôi bự sao?
Nó đè tay lên áo, phía dưới ngực nên phần trên nổi rõ lên.
– Thấy rồi, hiểu rồi. Vậy chứ bây giờ mầy muốn mấy ổ đây?
Nó cười đưa cái răng khểnh ra.
– Một ổ đủ rồi.
Chỉ khi nó cười mới thấy một chút duyên con gái, còn thì mặt mũi nó tầm thường, lại có vẻ dữ tợn nữa. Da ngăm đen, mắt xếch, lông mày rậm. Tôi làm cho nó một ổ bánh mì, nó ngồi xuống ghế ăn ngon lành, có vẻ đói bụng. Ăn được nửa ổ, nó đòi ít ớt, rồi gói lại cầm trên tay.
– Sao không ăn hết đi? Coi bộ mầy đói lắm mà!
– Để cho mẹ tôi.
– Mầy có hiếu dữ. Cứ ăn hết, tao cho ổ khác.
– Thiệt không đó? Ông cho chứ tôi không mắc nợ ông à!
Rồi nó lên giọng đạo đức.
– Ăn nhiều, ông lỗ vốn tội nghiệp.
Thế rồi cứ vài hôm nó lại ra xin bánh mì ăn. Tôi thường giữ lại những ổ bánh ế ngày hôm trước, chờ nó ra, tôi nướng lại thật giòn, thêm chút thịt thà vào, nó chỉ cần thế để được no bụng. Sự quen biết giữa tôi với nó có thân mật hơn và tôi biết nó cố ăn nói cho đàng hoàng nhưng đôi lúc vẫn bộc lộ bản chất tự nhiên trong xã hội của nó. Có lần tôi hỏi.
– Mầy tên gì?
– Tư Xập Xả.
– Trời đất! Tên gì kì cục vậy? Tao chưa hề nghe tên đó bao giờ.
– Mấy thằng cô hồn chọc tôi không được, chúng nói tôi đánh xập xả với mấy con kia.
– Mầy cặp một thằng bồ thì chúng hết gọi ngay.
– Thôi đi ông ơi, bọn con trai bây giờ lưu manh lắm, nó chơi cho nát nước còn đi nói tùm lum tà la. Mẹ tôi dặn đứa nào ưa phải cưới hỏi đàng hoàng. Bậy bạ, mẹ tôi buồn tội nghiệp.
– Nghe mầy nói, tao tưởng mầy còn dzin lắm.
– Chứ sao!
– Tao khó tin quá, kiểu nằm ngoài đường, mầy ngủ say là coi như ngon ăn với tụi nó.
Nó vênh mặt lên.
– Bộ ông tưởng tôi xạo chắc. Ông dám mò tôi không? Mẹ tôi chém cho bay đầu. Mấy đứa lãnh sẹo rồi đó. Mẹ tôi tỉnh ngủ lắm.
– Giữ làm gì cho mệt mầy ơi! Kiểu đó xưa rồi. Chữ trinh bây giờ không đáng giá ngàn vàng nữa đâu.
– Ngàn vàng là gì? Mấy chỉ đó cha nội. Bộ ông muốn dụ dỗ tôi phải không?
– Xin lỗi, tao không có ý đó đâu. Mẹ mầy làm gì?
– Bán vé số. Mắt bả yếu quá, cứ thối lộn tiền hoài, có bữa thâm vốn. Lối rày bịnh nặng thêm, nghỉ bán rồi.
– Còn mày làm gì mà cả ngày cứ thấy đi lờ xờ hoài?
– Dắt mối.
– Tức là giới thiệu em út cho người ta chứ gì? Chỗ nào? Chỉ cho tao với.
– Ông muốn chơi bời hả? Tối nay ra ngã ba Sung Sướng là có tôi. Nhưng bịnh hoạn ông ráng chịu nghe! Tụi nó coi mặt mũi ngon lành chứ ghê lắm…
– Tao giỡn chơi thôi. Mà ngả ba Sung Sướng là chỗ nào?
– Ngây thơ hoài! Góc Lê Văn Duyệt, Hồng Thập Tự đó. Tối nào em út cũng đứng đầy… Có tôi ngoài đó, ông lo gì.
Nhờ những buổi nói chuyện lẩm cẩm như thế, tôi hầu như hiểu rõ xã hội bị hất hủi đó, biết được những gia đình với những nhân vật có những tên kỳ quái, những cuộc đời thăng trầm và những cách thức sinh sống không ngờ được.
Bẵng một thời gian, độ mấy tháng tôi không gặp con nhỏ đó nữa. Một buổi sáng lại thấy nó lò dò ra ngồi, tóc tai rũ rượi.
– Cho một ổ bánh ăn đi, đói bụng quá rồi.
– Bánh chùa hay trả tiền?
– Bộ không thấy tôi như cái mền rách sao còn đòi tiền cha nội!
– Hỏi chơi thôi. Mấy lâu nay mầy đi đâu mà tao không gặp?
– Đi nghỉ mát Đa Lạt với mấy con bạn. Ông có nhớ tôi không? Tôi thì mỗi khi đói bụng lại nhớ ông.
– Người ta để tình yêu ở quả tim còn mầy thì để ở bao tử! Nói mẹ ra là nhớ bánh mì của tao cho rồi. Đi chơi có vui không, phí tổn ai chịu?
– Nhà nước lo, ngủ khách sạn, ăn thịt cộp.
– Giỡn chơi mầy? Thịt cọp đâu trên Đa Lạt mà ăn?
– Ông nầy ngu thấy mẹ. Là ở (tù) khách sạn Đại Lợi ngã ba Ông Tạ đó cha nội. Ăn muối đâm cộp cộp…
– Nhưng tại sao mầy bị bắt?
Nó nhìn tôi vừa thương hại vừa giận dữ.
– Chiến dịch thì nó bắt, chạy không kịp nó bắt. Khi nào nó bắt ông, ông sẽ biết. Cho ông nếm mùi Đalạt trăng mờ. Tôi trốn trại được chứ không cũng mút chỉ trong đó.
– Ừ tao cũng từng ở tù nhưng không giác ngộ cách mạng bằng mầy. Bây giờ mầy định làm gì? Tiếp tục sự nghiệp dắt mối của mầy chắc?
– Nó đang chiến dịch. Rầu thấy mẹ. Thò mặt ra là nó hốt liền.
– Buôn bán gì sinh sống đi mầy ơi. Làm nghề đó không ổn đâu.
– Vốn đâu?
– Thì nghề ít vốn như bán vé số, thuốc lá hay trái cây gì đó. Chút chút thì tao có thể phụ với mầy được.
– Thiệt không? Cho tôi mượn khó đòi lắm đó. Hay ông muốn cảm tình với tôi để lợi dụng gì đây? Tôi nói trước, ông muốn làm gì tôi cũng cho, rờ rẫm cũng được, nhưng ngủ với tôi không được đâu. Có thương ông bao nhiêu tôi cũng không cho ông. Tôi để dành…
-Tao biết! Tao biết! Để chờ ngày lên xe hoa chứ gì? Cỡ mầy hay tao thì đừng nên nghĩ đến ba thứ xa xỉ đó. Mà tao nói vậy vì thấy mầy cũng khổ như tao, nên muốn giúp mầy vậy thôi chứ âm mưu gì. Ba vụ đó tao tu rồi. Mầy sao đa nghi quá!
Thế là nó mua một cái xe đẩy, giống như cái thùng hình khối chữ nhật, có bánh xe hai bên, phía sau thêm một bánh xe nhỏ nữa. Trên xe để các loại trái cây đã làm sạch vỏ. Những múi mít vàng ửng thơm lừng, những múi bưởi mọng nước bên cạnh tô muối ớt đỏ rực, những trái sa bô chê, đào, mận, ổi dầm… nhìn thấy phát thèm. Nó đẩy xe vòng vòng các chợ, trường học, xóm lao động, các khu dân cư. Mỗi buổi sáng, nó đẩy xe ngang chỗ tôi bán, ghé vào tặng tôi trái ổi hay múi mít. Khi nào tôi vắng khách thì nó nấn ná trò chuyện, xong đập vai tôi một cái rồi đi.
Người ta thường nói hạnh phúc hay không là tự mình. Tôi nghiệm thấy rõ rệt ở con nhỏ nầy. Thoát được nghề dắt mối bấp bênh và đầy bất trắc nó đã sung sướng lắm rồi. Mẹ nó đêm qua ngủ yên giấc hoặc hôm nào bán đắt hàng, mua được chút quà cho mẹ, thế là nó tươi cười, ra khoe với tôi. Những lúc đó nó có vẻ tự tin và thương yêu tất cả mọi người, yêu cả những kẻ đã đẩy gia đình nó xuống tận cùng của khốn khổ. Nó ước ao.
– Tôi sẽ cố giành giụm để mua chiếc xe ba gác đạp. Đẩy xe nầy hoài muốn sụm giò. Tết nầy có xe là tôi đạp đi bỏ mối dưa hấu.
– Mầy để giành được bao nhiêu rồi?
Nó nhe răng ra cười.
– Được xu teng nào đâu. Không đủ tiền thuốc cho bà già, hễ bả rên rỉ, lăn lộn là phải tốn tiền cho ông y tá chích cho mũi thuốc.
– Bả bịnh gì vậy?
– Tôi đâu biết! Nghe ông y tá nói có cục sạn trong gan, trong thận gì đó, phải mổ mới lành. Mấy năm nay rồi mà đâu có tiền. Không mổ, cục sạn lớn là chết. Hễ bà già rên là tôi chịu không được. Mà có cách nào cho tôi đau thế cho bả được đâu!
– Phải tìm cách đưa bà già vô bịnh viện, bác sĩ mổ là hết bịnh ngay.
Chỉ còn độ một tháng nữa là đến Tết, công an lại mở chiến dịch dẹp lòng lề đường. Bàn vé số, tủ thuốc lá, xe bánh mì, thùng đồ nghề sửa xe đạp… công an đến, nếu không chạy kịp sẽ bị hốt về phường. Tôi chán quá, cũng dẹp luôn, chả buôn bán gì. Kể ra độc thân cũng khỏe, ở nhờ nhà người bạn, ăn uống sơ sài không tốn kém bao nhiêu, ngày ngày ra quán cà phê nhìn thiên hạ qua lại, nghĩ cách làm ăn khác. Cho đến một buổi tối, con nhỏ bỗng lại nhà tìm tôi. Nó kéo tôi ra chỗ vắng.
– Ông đến mẹ tôi nói gì với ông đó.
Tôi lấy xe đạp đèo nó phía sau.
– Có chuyện gì vậy? Tao đâu biết mẹ mầy là ai mà gọi tao giờ nầy?
– Tôi không biết, mẹ tôi biểu tìm ông.
– Hay là mầy nói gì về tao, bà ấy tưởng tao chọc ghẹo gì mầy… A! Vụ nầy không được đâu, có khi mầy cặp với đứa nào, có bầu, mầy đổ cho tao, bả kêu tao tới lãnh chứ gì.
Nó đập vào lưng tôi thật mạnh.
– Ông nầy cà chớn! Tôi không giỡn đâu nghe!
– Vậy chứ chuyện gì? Tự nhiên bắt tao chở mầy đi khơi khơi, mệt thấy mẹ. Mà mầy phải ôm eo tao. Mày làm như con nhà lành, mắc cỡ, ngồi xa tao phía sau, xe nó đảo, đi sao đặng!
– Tôi vật lộn với mấy thằng con trai hoài, đâu thấy gì. Không biết sao, gặp ông tôi run quá. Đứng xuống, để tôi chở ông cho. Thấy ông đạp tôi phát mệt.
Chúng tôi đổi chỗ cho nhau. Lần nầy đến lượt tôi không biết vịn hai tay chỗ nào để giữ cho người được vững mà không chạm vào người nó. Gió thổi ngược, mùi tóc và mùi thơm con gái phả vào mũi tôi hương vị nồng và ngọt ngào khiến tôi ngây ngất, nhưng thực sự, tự lương tâm tôi, không có một ý nghĩ vẫn đục gì với nó. Đời tôi gian nan và đau khổ quá nhiều. Tôi đã chiêm nghiệm và rút ra được một cách sống là vượt qua tất cả, vượt qua cả những ham muốn dù nhỏ bé nhất. Đối với nó tôi có được niềm vui và chút hãnh diện đã giúp đỡ nó có một cuộc sống khá hơn. Lòng biết ơn và cả sự tin cậy, an tâm của nó đối với tôi chính là hạnh phúc của tôi, tôi không muốn đánh mất.
Lúc đến nơi, nó dặn tôi.
– Mẹ tôi có nói gì đó giữa ông và tôi thì ông đừng chịu nghe! Ông mà bằng lòng tôi giận ông lắm đó.
Chỗ ở của hai mẹ con chỉ là cái mùng vải che muỗi giăng trước hiên nhà người ta. Lúc đó đã hơn mười giờ, người mẹ nghe con gái gọi, vội ngồi dậy vén mùng. Trong ánh đèn đường yếu ớt, tôi chỉ thấy lờ mờ một người đàn bà ốm yếu nhưng gương mặt còn phảng phất những nét thanh tú, hiền hậu. Tôi ngồi ghé bên mép chiếu. Bà lấy cái quạt giấy, quạt cho tôi, không phải để cho mát mà để đuổi muỗi. Muỗi vo ve khắp nơi, chích vào mặt vào chân, tay muốn nhảy nhỏm. Vừa đau vừa ngứa.
Sau vài câu xã giao, bà ta ngỏ ý xin lỗi nếu có tò mò hỏi về đời tư của tôi. Tôi vui vẻ trả lời.
– Không sao đâu dì ơi! Tôi kê khai gia phả tôi cũng vài chục lần với công an rồi, nên tôi thuộc như cháo.
Trò chuyện một lát, bà bảo con gái.
– Con ra mua cho anh con ly nước mía và điếu thuốc. Đi lâu lâu cho mẹ nói chuyện.
Khi đứa con gái đi rồi, bà ta than thở về bịnh hoạn và hoàn cảnh của mình.
– Ngồi đây cậu thấy tiệm phở có hình con gà đằng kia, sát bên cạnh là nhà của tôi, cái nhà hai tầng đó, bây giờ cán bộ đang ở tầng trên và cho người ta thuê mở tiệm cà phê ở tầng trệt. Năm bảy lăm (1975), cách mạng vô tịch thu hết, mà gia đình tôi đâu có làm gì nên tội, bán chạp phô mà cũng bị đánh tư sản! Họ bắt tụi tôi đi kinh tế mới, chỉ được đem theo vài bộ áo quần. Họ đưa vô nông trường Long Giao nhưng tuốt trong rừng sâu, hơn một ngày đường đi bộ mới ra tới lộ. Được hơn một năm ba nó bị sốt rét chết. Chẳng biết khi nào chúng tôi mới lên lại đó thăm mộ ba nó!
Bà ta cố nén xúc động bằng cách loay hoay tìm cái khăn.
– Vợ chồng tôi chỉ sinh được có con Ngọc, tính tình nó giống con trai nhưng tôi cũng được chút an ủi là nó rất thương mẹ… Tôi bây giờ chẳng thiết sống nữa, chỉ lo cho nó không nơi nương tựa.
Bà lấy khăn sụyt mũi, có lẽ định nói gì đó nhưng còn đang lựa lời.
– Tôi nói có điều gì không vừa lòng xin cậu bỏ quá cho. Sinh nó ra tôi đâu có ngờ đời nó khổ sở như thế nầy. Hơn mười tuổi đầu đã phải bương chải kiếm sống. Mấy năm nay tôi lại bị bịnh, nó càng khổ thêm. Tháng trước đến bịnh viện, họ bảo sạn mật đã lớn lắm rồi, phải mổ ngay, nhưng tiền đâu?! Vậy mà nó đòi đi lấy mấy chỉ vàng về cho tôi chữa bịnh.
Tôi ngạc nhiên.
– Ai cho mượn mà tử tế quá vậy?
– Ai mà cho mượn, nó đòi đi bán trinh đó cậu ơi!
– Trời đất! Vậy dì tính sao?
– Tôi nói với nó “Con đem tiền về chữa cho mẹ khỏi bịnh, nhưng mẹ sống mà thấy con như vậy thà mẹ chết còn hơn vì rủi bịnh hoạn con còn chết sớm hơn mẹ nữa, chi bằng bây giờ con nói thật với mẹ con thương ai, nếu là người tử tế thì con về sống với người ta, trinh tiết của con là của hồi môn quí giá nhất, chồng con sẽ thương yêu con và con sẽ được hạnh phúc” Nó nói “Con chỉ thương mẹ thôi, vì chẳng ai chịu cưu mang mẹ con mình đâu, con sẽ sống với mẹ cho đến khi mẹ chết con mới tính sau”. Tôi biết tính nó ngay thật lắm, tuy không nói ra, nhưng thường ngày nó nhắc đến cậu luôn. Hơn tuần nay cậu nghỉ bán, nó chạy hỏi quanh, lại thêm hôm kia bị hốt xe trái cây, nó về cứ ngồi khóc hoài. Tôi hỏi thiệt, cậu có thương nó không, thương hại cũng được, miễn sao sau khi tôi nhắm mắt, cậu săn sóc, che chở cho nó. Mới mười mấy tuổi đời, nó còn quá nhỏ để sống nổi với xã hội nầy” Bà nghẹn lời, ôm mặt khóc. Giọt nước mắt thương yêu, lo lắng cho đứa con bơ vơ, không nơi nương tựa. Tôi cũng có bà con thân thuộc, nhưng kể từ ngày tôi sa cơ thất thế, chẳng ai thèm hỏi thăm một tiếng, thấy tôi là họ tránh mặt. Đời đen bạc lắm cậu ơi! Hay là cậu cứ hứa đi, rồi cậu tính sau.
Tôi ngồi lặng thinh. Thật khó giải quyết! Thân tôi lo chưa xong, bây giờ lại đèo thêm con nhỏ nầy, nhà cửa đâu, tiền bạc đâu? Vừa lúc đó nó vào.
– Ông nói gì cho mẹ tôi khóc đó?
Bà ta dịu dàng với con gái.
– Anh con đâu nói gì, chỉ có mẹ nói thôi, mẹ nói về chuyện của con.
– Chuyện của con là chuyện gì?
– Thì chuyện bịnh hoạn của mẹ.
– Mẹ nói cả chuyện con lên Chợ Lớn nữa à? Bộ mẹ điên rồi hả? Đem chuyện nhà cho người ta nghe!
Tôi muốn nói chen vào nhưng không lẽ trước mặt người đàn bà nầy lại xưng mầy tao với nó. Sau cùng tôi quyết định.
– Mẹ cô muốn cô lập gia đình nhưng không biết cô thương ai?
– Bộ ông tưởng tôi thương ông có? Mẹ tôi có chết tôi cũng không lấy ông đâu, ông đừng hòng mà bàn ra cho mẹ tôi không chịu đi chữa bịnh.
Người đàn bà vẫn dịu dàng.
– Sao con lại nặng lời với anh con!
– Mẹ ơi, con đã nói với mẹ nhiều lần rồi, mẹ phải chữa cho lành bịnh. Con không thương ai hết, chỉ thương mẹ thôi. Con đã quyết định từ lâu rồi, con giữ gìn thân con bao năm nay là để dành cho mẹ. Bây giờ mẹ không nghe, mẹ chịu chết, con cũng phải bán thân con để làm đám ma cho mẹ mà. Dù bó chiếc chiếu cũng phải tốn cho bao nhiêu thứ khác, từ cây nhang cho đến cái huyệt mả… Con không lấy chồng, không thương ai hết.
Nó nấc lên rồi vùng bỏ chạy vào bóng tối. Tôi nghe tiếng sụt sịt, có lẽ bà ta cũng khóc nhưng cố nén lại.
– Nó nói cũng phải đó dì. Dì phải chữa bịnh để sống với nó. Bịnh của dì chỉ mổ là hết ngay. Được một đứa con hiếu thảo như nó hạnh phúc hơn bao nhiêu người khác, giàu có mà con cái chẳng ra gì. Tôi không dám hứa chắc với dì, nhưng sau nầy nếu nó lẻ loi, tôi sẽ lo lắng cho nó như đứa em gái. Bây giờ dì uống ly nước mía rồi nằm nghỉ, để tôi ra hỏi xem nó nghĩ gì.
Tôi đứng dậy dắt xe ra đường Duy Tân. Đường quá tối nhưng tôi cũng nhận ra được nó ngồi trên hiên nhà, hai tay ôm lấy đầu. Tôi dựng xe, ngồi xuống bên cạnh.
– Tôi đã nói với bà già, chịu đi chữa bịnh rồi vì tôi có hứa sẽ săn sóc cho cô bé, nhưng sau nầy kia, chứ bây giờ tôi dự định lên rừng đốn củi, làm rẫy với tụi bạn, chưa ổn định gì cả.
Con nhỏ yên lặng một lúc lâu, rồi thở dài.
– Nhưng,… thành con gái hư rồi! Chẳng ai thèm thương nữa!
Rồi thấm ý, nó khóc rấm rức.
– Đừng lo cô bé. Chỉ cần tấm lòng chân thật, chung thủy mới đáng quí, chứ trinh tiết, như cô bé thấy đó, mấy chỉ vàng là cùng.
– Nhưng thấy mấy con nhỏ kia bị bịnh… sợ quá! Nghe nói có bịnh gì không thuốc chữa, lúc đó chắc… tự tử chớ không dám gặp ai.
– Một lần, hi vọng không sao. Dù sao cũng cầu Trời khẩn Phật rồi phó thác cho may rủi. Bây giờ tôi về, vô “nhà” kẻo mẹ trông.
Tôi dợm đứng lên, nó kéo áo tôi lại.
– Khi nào đi! Có ghé nữa không?
– Có chứ, sáng mai tôi lại đây, bàn giao xe bánh mì cho cô bé, khi nào hết chiến dịch thì đẩy ra bán. Độ tuần sau tôi đi rồi.
Tôi lại dợm đứng lên, nó lại kéo áo tôi ngồi xuống. Yên lặng một lúc thật lâu nó mới ngập ngừng, thì thầm như nói cho chính nó nghe.
– Có thương em thiệt không?



