Enter your email address below and subscribe to our newsletter

50 Năm Ngày Quốc Hận 30-4. Nghĩ gì…Làm Gì?

Share your love

Nguyễn Quang Dũng

Lễ Tưởng Niệm Quốc Hận năm thứ 49, Eden Center, Virginia                                     Ảnh: NQD

30 tháng Tư 1975 là vết thương sâu, rất sâu trong lòng hàng triệu người Việt hải ngọai còn mãi nghĩ mình đang trong thân phận mất nước, lưu vong và vẫn mong một ngày trở về quê hương Việt Nam không còn bóng dáng cộng sản.

Và cứ như vậy, mỗi năm tháng 4 lại về. Bây giờ là những ngày tháng của tháng 4 năm 2025. Đã 50 năm trôi qua từ tháng 4-1975. Nhìn về những tháng ngày phía trước, nhiều tổ chức cộng đồng đang chuẩn bị về Thủ đô tổ chức đại lễ kỷ niệm 50 năm ngày quốc hận 30-4.

Nhìn lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ tại kỳ đài Eden, thấy lòng chùng xuống. 50 năm rồi sao? Nhìn lại tấm hình năm ngoái, hàng lính danh dự của quý anh Cựu Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa trong buổi lễ, những năm nào trước đây còn đông hai ba hàng, giờ chỉ còn một hàng. Tóc các anh đã bạc nhiều. Sang năm ai còn ai mất?

Nhìn lại mình, tóc trên đầu cũng đã bạc. Nghĩ gì? Làm gì? Tôi tự hỏi tôi.

Nghĩ gì?…

Quá Khứ Ngậm Ngùi …

30 Tháng Tư 1975, ngày mất nước, tôi 20 tuổi, đang còn là sinh viên đại học.

Nếu hệ thống giáo dục miền Nam Việt Nam đào tạo tôi lớn lên trong tình tự dân tộc và lễ nghĩa của người Việt biết yêu nước và yêu người thì trái lại, những người “thắng cuộc” từ miền Bắc vào đã đảo ngược tất cả. Họ vào miền Nam với vũ khí tư tưởng nuôi dưỡng bằng lòng hận thù, giết chóc, tàn phá, và cướp đoạt. Đó là tập thể của ma quỷ và bóng tối tên gọi là Đảng Cộng Sản Việt Nam. 

30 Tháng Tư 1975, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã tập hợp một đoàn âm binh- nói rặt một ngôn ngữ của tận cùng giả dối, mang cùng một đồng phục màu tối đen, xanh hoặc nâu- với nhiệm vụ phá hoại, lật nhào, tiêu diệt tất cả những gốc rễ của xã hội và cơ chế dân chủ phôi thai của miền Nam.

Và như vậy, hàng triệu người miền Nam còn ở lại sau 30-4-1975 bắt đầu cuộc sống trong bóng đen của thế cuộc đổi đời, chứng kiến những nghịch cảnh của những cướp đoạt trắng trợn từ phe thắng cuộc và bị dồn đẩy vào thế cùng, không có lối thoát trong thân phận của những kẻ bại trận.

Hàng trăm ngàn quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa bị lùa vào các trại tù khổ sai dưới chiêu bài “học tập cải tạo”.  Vợ con gia đình họ bị liệt vào hàng ngũ “ngụy quân, ngụy quyền”, tài sản bị chiếm đoạt và bị chiêu dụ hoặc cưỡng ép đi lao động vùng “kinh tế mới”. Nông dân phải giao nộp đất đai vào “hợp tác xã”. Các cơ sở doanh nghiệp tư nhân bị tich thu, xung công hoặc biến thành “doanh nghiệp quốc doanh”. Cả nước trở thành một nhà tù khổng lồ trong lúc điều nghịch lý nằm trong một cơ chế xã hội mới mọi người phải chấp nhận: “Đảng lãnh đạo, Nhà Nước quản lý, Nhân Dân… làm chủ”.  Cho đến bây giờ, ngày nào còn chính quyền cộng sản tại Việt Nam thì cơ chế tôn vinh vị trí “Đảng và Nhà Nước” trên cả Nhân Dân và Đất Nước sẽ không bao giờ thay đổi.

Đàn Chim Vỡ Tổ

Trong khốn cùng của tình trạng bị cưỡng chiếm, kềm kẹp, xiết chặt, hàng triệu người miền Nam đã bỏ quê hương tìm đường thoát.

Bằng đường biển.

Bằng đường bộ.

Những hình ảnh của một dúm người chen chúc trên những chiếc ghe nhỏ trôi nổi trong lòng đại dương mênh mông, tìm đường chạy trốn cộng sản của người dân miền Nam Việt Nam làm rúng động thế giới. 

Hàng triêu người Việt Nam đã liều chết đi tìm đất sống ở các xứ sở tôn trọng tự do và quyền sống con người. Hàng trăm ngàn người đã vùi thây dưới đáy biển, hay chôn xác trên đường rừng. Chưa bao giờ trong dòng lịch sử Việt Nam chúng ta chứng kiến và ghi nhận một cuộc di tản vĩ đại của người dân miền Nam Việt Nam – bỏ lại quê hương và cả người thân, chấp nhận tất cả những bất trắc và ngay cả mất mạng sống – để chỉ hy vọng được sống tự do.

Ngày nay, người Việt Nam với căn cước tỵ nạn cộng sản có mặt hầu như cùng khắp ở các quốc gia tự do trên thế giới và trở thành lực lượng căn bản của người Việt Quốc Gia chống cộng hải ngoại.

Những Trải Nghiệm của Máu và Nước Mắt

“Đoạn trường ai có qua cầu mới hay.” (1)

– Phải là những Người Lính Việt Nam Cộng Hòa can trường trong những trận đánh bảo vệ từng tấc đất của miền Nam Việt Nam chống cộng sản Bắc Việt xâm lăng suốt hơn 20 năm, thì mới hiểu những uất hận của những chiến sĩ bị buộc phải buông súng vì không còn súng đạn để chiến đấu và lực lượng đồng minh Hoa Kỳ đã bỏ cuộc …

– Phải là những người lính trải qua những trận chiến khốc liệt đến không tưởng, anh dũng chống trả quân xâm lăng từ miền Bắc, ở An Lộc, Tống Lê Chân, Cổ Thành Quảng Trị và cuối cùng ở Xuân Lộc… Phải là những người lính trấn thủ ở từng địa phương, từng xã ấp ngày đêm đối diện với những nguy hiểm của Việt cộng  rình rập đột kích, phá hoại an ninh, giết hại dân lành…Phải chứng kiến những vị Tướng và nhiều người lính vô danh khác tự kết liễu mạng sống không chịu hàng giặc cộng sau lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh thì mới hiểu thấu niềm tự hào “Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm” của mỗi người lính trong mọi binh chủng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

– Phải là những Cán Bộ Quốc Gia Hành Chánh, những công bộc của người dân trong guồng máy hành chánh công quyền của miền Nam Việt Nam, song hành với lực lượng quân đội, tiếp cận với đời sống dân lành, gian nan thực hiện công tác được giao phó ở tận những quận lỵ, xã, ấp thì mới hiểu thấu tấm lòng với dân tộc của Kẻ Sĩ trong thời loạn.

– Phải là những Nhà Văn, Nhà Báo, Nhạc sĩ, Nghệ Sĩ của miền Nam mới hiểu tại sao những Văn nghệ sĩ  sáng tác quyết liệt từ chối bẻ cong ngòi bút hay dứt khoát bất hợp tác với cộng sản cho dù phải mất mạng sống trong tù “cải tạo”. Những chứng nhân cái chết trong tù của Nhà Văn Nguyễn Mạnh Côn, Nhà Quân Sử Phạm Văn Sơn…; những nhân chứng sống cho đến ngày hôm nay như Nhà Văn Doãn Quốc Sĩ, Phan Nhật Nam… đều rõ ràng dứt khoát nói lên một điều: Sáng Tạo chỉ hiện hữu và phát triển trong Tự Do.

– Phải sống qua những hãi hùng của thảm sát Tết Mậu Thân 1968, của Đại lộ Kinh Hoàng Quảng Trị 1972, những cuộc ám sát giết người đẫm máu do Việt cộng chủ mưu, diễn ra hàng ngày đêm khắp nơi từ thành thị đến thôn quê miền Nam nước Việt thì mới hiểu thấu nỗi sợ hãi cộng sản  của người dân Miền Nam phải chạy trốn bằng mọi giá khi cộng sản tràn vào chiếm đóng nơi họ sinh sống.

– Phải sống trong nhà tù vĩ đại của cộng sản, sau ngày mất nước 30-4-1975, thì mới hiểu được sự tàn độc rất tinh vi và hiểm ác của chế độ cộng sản. Chế độ hộ khẩu, lương thực tem phiếu, tổ dân phố, vùng kinh tế mới, hệ thống công an -kiểm soát, theo dõi mọi hành vi hay tư tưởng chống đối- là những công cụ biến người dân trở thành đàn cừu ngoan ngoãn dưới sự “chăn dắt” của Đảng và Nhà Nước.

– Phải ở trong những trại tù “cải tạo”, lao động khổ sai trong hoàn cảnh  đói khát thiếu ăn, co ro lạnh rũ thiếu mặc, ngày ngày nghe những cai tù ngu dốt lên lớp “cải tạo” tư tưởng  thì mới thấu hiểu chính sách tàn độc của cộng sản Việt Nam nhằm tiêu diệt những mầm mống chống đối, “phản cách mạng”,“ngụy quân, ngụy quyền”. Hàng ngàn tự truyện, hàng trăm ngàn nhân chứng sống cho đến bây giờ vẫn còn kể lại tường tận những năm tháng cam khổ, uất nghẹn, nhưng vẫn kiên trì tìm cách tồn sinh. Hàng chục ngàn người tù “cải tạo” đã bỏ thây trên rừng núi, trong các trại tù từ Nam ra Bắc, đến tận “Cổng Trời” (2). Nhưng cũng không ít tù “cải tạo” đã bất khuất chống đối, không nhận có tội trước họng súng của kẻ thù, đứng thẳng trong tù, chấp nhận cái chết hiên ngang của những con người không hề khuất phục trước bạo quyền. (3)

– Phải là những bà mẹ, người vợ, những người phụ nữ miền Nam trong thân phận “gia đình ngụy quân, ngụy quyền”, chồng trong tù “cải tạo”- không biết tung tích, không biết ngày về, thì mới cảm nhận được nỗi vất vả, cùng cực gian nan, tuyệt vọng không lối thoát đổ ập trên đầu những người mẹ, người vợ miền Nam sau 30-4. Vậy mà những người phụ nữ Việt Nam can đảm đó vẫn đứng vững tồn sinh, tìm cách nuôi dưỡng con cái, kiếm sống, vượt ngàn dặm ra Bắc, xuôi Nam nuôi chồng trong những trại tù khổ sai tận sâu trong những vùng rừng núi mịt mù. Họ nhất định không buông bỏ hy vọng, giữ vững gia đình, nuôi dưỡng con cái, nhiều lúc còn sẵn sàng chấp nhận hiểm nguy, mang theo con cái vượt biển, vượt biên tìm đường sống.      

– Phải trải qua những nguy hiểm trên đường đào thoát vượt biên, vượt biển thì mới hiểu thấu được tâm trạng của những người dân miền Nam, già trẻ lớn bé, không còn đất sống trên chính quê hương mình. Phải là những “thuyền nhân” Việt Nam vượt biển đi tìm tự do – cái tên thế giới gọi họ là “boat people”, thì mới  có thể chia sẻ được những trải nghiệm hãi hùng của những ngày, tháng lênh đênh giữa biển cả mênh mông, đối diện với đói khát, bão tố, hay hải tặc cướp giết hãm hiếp, sinh mạng như mành treo chuông phó mặc cho định đoạt của những Đấng Bề Trên. Hàng trăm ngàn thuyền nhân đã vùi thây dưới đáy biển, và chắc chắn không ít người đã chôn thây trên đường bộ vượt biên.

Ảnh: UNHCR/ K.Gaugler December 1978

– Và phải là những người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản, thì mới cảm nhận và hiểu thấu những gian nan vất vả của những người Việt di tản, hầu hết tay không, đến được những xứ sở lạ, những vùng đất mới để tạo dựng lại cuộc sống. Ở Mỹ. Ở Úc. Ở Đức. Ở Pháp. Ở Bỉ. Ở Gia Nã Đại và nhiều quốc gia khác trên thế giới…Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản phải học tiếng xứ người, gian nan kiếm sống, tồn sinh, nuôi dưỡng con cái, tạo lập gia đình. Làm lại từ đầu.

Những Thay Đổi của Thời Thế

1. Biến thể của Đảng Cộng Sản Việt Nam:

Năm 1989 Cộng Sản Đông Âu sụp đổ, Năm 1991 Cộng Sản Nga và Liên Bang Sô Viết tan rã đánh dấu sư thất bại của chủ nghĩa cộng sản. Đảng Cộng sản Việt Nam nhanh chóng thay đổi để tồn tại, theo bài bản của đàn anh Trung cộng, với chính sách đổi mới “nửa nạc, nữa mỡ” vẫn còn áp dụng cho tới ngày nay: “Phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.” Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà Nước Quản lý, Nhân dân làm chủ” vẫn như cũ. Nhưng với cơ chế này và mô hình phát triển “đổi mới”, Đảng và Nhà nước cộng sản đã hiện rõ bản chất gian tham vô độ: Đảng viên tha hồ bán đất đai, khai thác rừng, biển, thâm lạm công quỹ và chia nhau những khoảng đầu tư từ nước ngoài mà không ai có thể kiểm soát. Một giai cấp mới tên gọi là “Tư Bản Đỏ” chỉ gồm Đảng viên Đảng cộng sản  và các giới cấp liên quan được hình thành trên quê hương khốn khó Việt Nam. Tham nhũng, vơ vét của cải công tư để làm giàu trở thành đặc quyền và đặc trưng của “Đảng và Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam”! 

Tập thể Người Việt tỵ nạn cộng sản hải ngoại từng bị Đảng lên án là “bọn tàn dư Mỹ Ngụy ôm chân Đế Quốc” nay được cải biến thành “khúc ruột nghìn dặm” và được khuyến khích tự do mang tiền trở về quê hương đầu tư, kinh doanh và sinh sống, chưa kể gần đây trở thành đối tượng nhằm “phát huy nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài” (4). Nhưng cho dù tên gọi có được thay đổi, cải biến như thế nào chăng nữa, người Việt Tỵ Nạn, nếu trở về nước, tuyệt đối không được phản đối hay thắc mắc gì về cái cơ chế bất di bất dịch “Đảng lãnh đạo, Nhà Nước Quản lý…”

Đảng Cộng Sản Việt Nam biến hình, nhưng thực chất vẫn nguyên trạng.

2. Hoa Kỳ tái lập bang giao với Việt Nam:

Ngày 3 tháng 2 năm 1994: Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton quyết định bãi bỏ lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam

Ngày 11 tháng 7 năm 1995, Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton và Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai nước.

Đến tháng 9 năm 2023, Tổng Thống Hoa Kỳ Joe Biden và Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã thỏa thuận nâng cấp quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam là Quan hệ Đối Tác Chiến Lược Toàn Diện (Comprehensive Strategic Partnership)

Nên biết, trong số 194 quốc gia có quan hệ ngoại giao với Việt Nam, cho tới năm 2025 đã có 12 nước có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam là: Trung Quốc (2008); Nga (2012); Ấn Độ (2016); Hàn Quốc (2022); Hoa Kỳ (09/2023); Nhật Bản (11/2023); Úc (03/2024); Pháp (10/2024); Malaysia (11/2024); New Zealand (02/2025); Indonesia (10/03/2025); và Singapore (12/03/2025). (5)

Từ quan hệ thù địch đến quan hệ hợp tác chiến lược toàn diện, sau 50 năm từ 1975, quan hệ giữa Việt Nam và Hoa kỳ đã xoay chiều 180 độ.

3. Cuộc Cách Mạng công nghệ thông tin:

Tháng 1 năm 1983 mạng Internet chính thức mở rộng vào sử dụng ở mức độ đại chúng. Năm 2007, Apple tung ra thị trường chiếc Iphone đầu tiên, phổ cập hóa và hiện đại hóa chiếc điện thoại di động đến tay mọi người.

Cuộc cách mạng công nghệ thông tin bùng nổ.

Ngày nay vào năm 2022, đã có hơn 8.58 tỉ điện thoại thông minh (smart phone) lưu hành trên thế giới so sánh với dân số thế giới là 7.95 tỉ. Số người sử dụng Internet ước lương là 5.4 tỉ người, hay 67% dân số thế giới (5).

Kể thêm đến những phát triển gần đây nhất về Trí Tuệ Nhân Tạo hay AI (Artificial Intelligent) thì chúng ta đang ở trong thời đại của cuộc cách mạng kỹ thuật mới: Cách mạng công nghệ Trí Tuệ Nhân Tạo. Chắc chắn sẽ còn nhiều thay đổi mới do những tiến bộ, phát minh khoa học kỹ thuật trong một tương lai không xa.

Một điều thay đổi rõ rệt thời đại hiện nay là viêc đại-chúng-hóa khả năng liên lạc, truyền tải, trích dẫn, trao đổi thông tin và ngay cả các dịch vụ mua bán hay ngân hàng: Tất cả đều được mã số trên mạng Internet và có thể thực hiện cực nhanh bằng đầu ngón tay lướt trên màn hình một chiếc điện thoại thông minh.

Do vậy, các thông tin về Việt Nam, các hoạt động của người Việt trong nước và hải ngoại được chuyển và nhận trong giây phút qua mạng Internet hay qua điện thoại thông minh (smart/cell phone). Chưa kể đến các mạng truyền thông “xã hội” (social media) như Facebook, Instagram, YouTube, WhatsApp, X (Twitter), TikTok vv…cộng thêm hàng triệu Trang Mạng (Website/ Blog) truyền tải rộng rãi đến người xử dụng vô số các thể loại thông tin.

Làm gì?…

Biết Người…

Ba điều kiện sống còn của Đảng Cộng Sản Việt Nam:

Đảng Cộng Sản Việt Nam thành lập từ 1930, còn tồn tại cho đến ngày hôm nay nhờ dựa trên việc bảo đảm duy trì 3 yếu tố sống còn như sau:

1. Đảng duy trì hệ thống đảng viên nắm giữ hầu hết những cơ chế huy động quần chúng. Đó là quân đội, công an, guồng máy công quyền, tiền tệ – ngân hàng, thông tin – báo chí, ngay cả khu vực công xưởng, giải trí, thể thao. Cho đến năm 2021, Đảng Cộng sản Việt Nam có 5.300,000 đảng viên (6) cấu kết thành một hệ thống thống trị chặt chẽ từ trung ương đến địa phương tại Việt Nam.

2. Đảng sẵn sàng đàn áp, trù dập, tiêu diệt tất cả các mầm mống chống đối trong nước. Với hệ thống công an đầy dặc và tình báo kiểu tai mắt “nhân dân” đảng thẳng tay tiêu diệt mọi tổ chức, mọi tiếng nói chống đối, đòi hỏi nhân quyền, tự do, dân chủ, đa đảng đa nguyên. Đảng Cộng Sản Việt Nam “ngồi xổm” trên dư luận quốc tế, làm ngơ những chuyện thế giới nói về vi phạm nhân quyền tại Việt Nam, bỏ tù những người lên tiếng chống đối, chỉ trích đảng và nhà nước.

Ngay cả hệ thống thông tin “mạng xã hội” rất phổ cập tại Việt Nam như Facebook với con số người sử dụng lên tới 77 triệu hay 80% dân số cả nước (7) vẫn bị dưới sự kiểm soát, theo dõi của đảng. Và cũng nên nhớ, trong nội bộ đảng, khi tranh dành quyền lực, ngay chính các đảng viên cao cấp hàng đầu, gần đây nhất như Thủ Tướng Võ Xuân Thưởng, Chủ tịch Quốc Hội Vương Đình Huệ còn bị triệt hạ, ép phải từ chức; nhiều đảng viên cấp cao khác bị truy tố, vào tù vì tội …tham nhũng (…trong lúc toàn bộ đảng viên là một tập đoàn tham nhũng!) thì việc tuyên án nhốt tù các nhà đấu tranh, các tiếng nói đòi hỏi dân chủ (8) chỉ là… “chuyện nhỏ” đối với Đảng.

3. Đảng tiếp tục dựa lưng và lê thuộc đàn anh Trung Cộng trong thế tồn tại hỗ tương của hai quốc gia cộng sản “láng giềng”, nhưng vẫn không từ chối các giao dịch kinh tế với các quốc gia dân chủ Tây Phương nhất là Hoa Kỳ, Âu Châu, Úc Châu..hay các quốc gia phát triển lân bang như Nhật Bản, Nam Hàn, Indonesia….

Duy trì được ba điều kiện sống còn trên, Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn sẽ tiếp tục vận hành guồng máy cai trị độc tài, độc đảng, bốc lột, tham nhũng và đàn áp tại Việt Nam, ở đó, sự tồn sinh của đảng được đặt lên hàng đầu; dân tộc và đất nước trở thành hàng thứ yếu.

Biết Mình…

Thực trạng của Tập Thể Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản Hải ngoại

Cho đến năm 2023, con số người gốc Việt tại Hoa Kỳ đã lên đến 2,3 triệu (9) trong tổng số khoảng hơn 5 triệu người Việt hải ngoại trên thế giới (10)

1. Đối diện với lực lượng thống trị cầm quyền của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong nước thì tập thể Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại là một lực lượng phân tán, thiếu kết hợp; nặng tinh thần cá nhân, cục bộ, đia phương; đại đa số nhân sự hoạt động tình nguyện với phương tiện tài chánh và nhân lực điều hành rất eo hẹp. Các hoạt động của các Đảng phái Quốc gia hải ngoại, nếu có, cũng trong tình trạng tiềm ẩn và hạn chế trong việc vận động quần chúng yểm trợ.

2. Thế hê đầu tiên của tập thể người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản từ 1975 đến nay đã trong giai đoạn lão hóa. Đại đa số đã ở tuổi nghỉ hưu, mệt mỏi sau những năm tháng dài chật vật lo toan cho gia đình và ổn định đời sống ở xứ người. hay phải đối diện với bệnh tật lúc về già. Nhiều người đã qua đời hoặc âm thầm rút lui vào cuộc sống quy ẩn.

3. Thế hệ thứ hai, thứ ba của tập thể người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản- không lớn lên, không sống và không dính líu trong cuộc chiến Quốc Cộng – đa phần hội nhập vào đời sống mới tại các quốc gia cư ngụ, không tiếp nối, không tham gia các sinh hoạt của thế hệ cha ông. Một số rất nhỏ thuộc thế hệ kế tục này tiếp tục tham gia sinh hoạt chống cộng hay sinh hoạt hội đoàn, nhưng cũng trong tình trạng cục bộ, “đèn nhà ai nấy rạng”.

4. Các hoạt động chống cộng bây giờ nhiều khi chỉ hiện hữu trên các bài viết, các đặc san, các phim ngắn, phóng sự truyền hình phổ biến qua các hệ thống điện thư hay trên các mạng xã hội Internet như YouTube, Facebook …; hoặc trong các “bản lên tiếng, lời kêu gọi, tuyên cáo”; các buổi hội thảo về Chiến Tranh Việt Nam; hay các buổi tập họp mang tính chất của “Lễ Kỷ Niệm, Lễ Tưởng Niệm, Lễ Chào Cờ”, và các “Đại Hội” của những tập thể hội đoàn quân đội hay dân sự, hoặc của các tổ chức ái hữu người Việt Quốc Gia thời trước 1975.

Gần ngàn người Việt từ khắp Hoa Kỳ biểu tình chống Đặc Khu và an ninh mạng trước tòa Đại Sứ Việt Cộng tại Washington D.C. vào tháng 7/2018. Những cuộc biểu tình chống cộng quy tụ đông đảo người Việt như vậy, ngày nay rất khó lòng thực hiện

5. Nhìn chung sau 50 năm, tinh thần chống cộng của Tập Thể Người Việt Tỵ nạn Cộng sản bị soi mòn theo dòng thời gian. Các sinh hoạt chống cộng có khí thế, tập trung được đông đảo lực lượng quần chúng hải ngoại như trong các thập niện 1980, 1990 đã không còn nữa. Không thiếu nhiều người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản hải ngoại gần đây về thăm Việt Nam bị “lóa mắt” trước những thay đổi của những công trình phát triển khu dân cư, du lịch, cầu cống, các cao ốc, tượng đài “hoành tráng” thuộc tầm cỡ “nhất thế giới” và nghĩ rằng Cộng sản Việt Nam đã thay đổi, kinh doanh  kiểu kinh tế thị trường, đất nước đã giàu có, dân trong nước đều có vẻ “chấp nhận” chế độ và “bằng lòng” với cuộc sống hiện tại!

6. Lợi dụng tình trạng phân tán, thiếu kết hợp trong nội bộ các tổ chức và cả trên tình trạng địa lý sinh sống của Người Việt Tỵ Nạn Hải Ngoại, Đảng Cộng sản Việt Nam tìm cách thâm nhập, tung người hay tung luận điệu phá hoại, gây chia rẽ; tuyên truyền hoặc chiêu dụ hợp tác trong cộng đồng Người Việt Quốc gia hải ngoại, chính yếu nhắm vào thế hệ thứ hai, thứ ba là thành phần ít lưu tâm đến quá khứ và cuộc chiến Quốc-Cộng của thế hệ cha ông.

Câu hỏi còn lại là: Hành trình chống cộng của chúng ta trước mặt sẽ làm được những gì và đi về đâu?

Vẫn Còn Đây Những “Trái Tim Lửa” (11)

50 năm là chặng đường dài kiên trì chống cộng của tập thể Người Việt Tỵ Nạn Cộng sản hải ngoại. Thành quả lớn nhất chúng ta tạo dựng được là một tập thể cùng chung một quá khứ, văn hóa và vận mệnh của những người Việt Miền Nam lưu vong và nhất là cùng một lòng chung một bóng cờ: Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ. Năm mươi năm sau ngày mất nước, Lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ Việt Nam Cộng Hòa vẫn hiện diện ở khắp nơi trên thế giới ở những nơi có mặt cộng đồng Người Việt Tỵ Nạn cộng sản

Tận sâu trong lòng nhiều người Việt Tỵ Nạn Cộng sản lúc này, chống cộng là ý thức chọn lựa của đạo đức và lương tâm Việt:

  • Chúng ta chọn sống tình cảm hiền hòa, thành thực – lấy nền tảng gia đình và láng giềng là chính yếu, dứt khoát không chọn kiểu sống a dua tập thể, bài xích lẫn nhau, thực chất là giả dối tận gốc rễ trong lối sống, sẵn sàng tiêu diệt, tàn hại, giết nhau của tập thể kiểu cộng sản hay xã hội chủ nghĩa.
  • Chúng ta yêu quê hương đơn giản qua tình tự gắn bó với Đất, Nước và Con Người tại nơi sinh trưởng hay sinh sống. Đó là tình Làng, Xã , Tỉnh, Thành nối liền nhau bằng tiếng nói và ngôn ngữ Việt, nhất định không phải là “Yêu Nước là Yêu Đảng” hay “Yêu Nước là Yêu Xã Hội Chủ Nghĩa” hay “Còn Đảng, Còn Mình”.

Do vậy khắp nơi trên thế giới, ở đâu có người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản ở đó còn có Lá Cờ Vàng, còn có các hoạt động “chống cộng” mang ý thức chọn lựa, dứt khoát không đứng chung, dứt khoát không chấp nhận chế độ cộng sản tại Việt Nam. Trong đơn độc, hay một nhóm nhỏ, nhiều người Việt tại hải ngoại vẫn âm thầm viết truyện, hồi ký, tự phát hành sách báo; làm phim ảnh; dạy con trẻ học tiếng Việt. Các bà mẹ, các cô gái hay em bé vẫn tha thướt trong những tà áo dài truyền thống Việt Nam trong các dịp hội họp hay lễ lạc…Và như vậy chúng ta đã thể hiện tình yêu quê hương một cách hết sức tự do, bình thường và tự nhiên trong đời sống tha hương. Chúng ta mãi vẫn là những những người Việt lưu vong với “Trái Tim Việt Nam”, trên đường tìm về và mong tìm lại quê hương Việt Nam Tự Do, không còn bóng dáng cộng sản.

Một Định Hướng Cho Ngày Mai?

Cho đến nay, chúng ta đã chứng kiến nhiều nỗ lực của tập thể người Việt Tỵ Nạn cộng sản nhằm tổ chức, tạo dựng lực lượng tranh đấu cho một Việt Nam Dân Chủ – Tự Do – Nhân Bản. Điển hình là Liên Minh Dân Chủ Việt Nam do Cố Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy thành lập năm 1981; hay tổ chức Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại; hoặc các tổ chức Cộng Đồng Người Việt Liên Bang Hoa Kỳ nhằm tiến tới việc kết hợp hoạt động của người Việt Tự Do tại hải ngoại.

Nhưng thực tế đáng buồn vẫn là: Chúng ta chưa bao giờ tạo dựng hay tổ chức được một lực lượng có sự tham gia rộng rãi, đồng thuận của nhiều người Việt chung chí hướng tại hải ngoại; mà trái lại hễ ngồi lại với nhau thì có sự bất đồng, dẫn tới tranh cãi, bất hòa và cuối cùng là tách biệt. Nhóm nào ngồi lại với nhóm đó. Hoạt động phân tán, rời rạc là căn bệnh trầm kha!

Vấn đề còn lại là đến khi nào, làm cách nào chúng ta có thể thực sự gác bỏ dị biệt, gác bỏ tự tôn tự ngã, ngồi lại với nhau, góp tay, hợp sức một cách có tổ chức để có thể cùng hướng tới một mục tiêu đã được đồng thuận?

Tôi tin rằng đã đến lúc chúng ta cần nhìn thẳng vào thực trạng của tổ chức người Việt tỵ nạn cộng sản hải ngoại để tìm một giải pháp thích nghi, một đáp án cho câu hỏi nêu trên.  Bởi lẽ đơn giản là: Các hoạt động riêng lẻ sẽ không đem lại hiệu quả và muôn đời chúng ta sẽ không thấy được đích tới.

Tôi tin rằng: “Một cây làm chẳng nên non. Ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Góp ý. Góp tay. Góp sức. Một cách nghiêm chỉnh và thành tâm, chúng ta sẽ tạo được sức mạnh. Tối thiểu là tìm thấy  một đáp án, một giải pháp tạo dựng được lực lượng người Việt Tự Do tại hải ngoại.

Tạm Kết…

Xin được tạm kết bài viết này bằng những câu thơ của Cố Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương trong bài thơ  Trả Ta Sông Núi :

Ngày nay muốn sông bền, núi vững

Phải làm sao cho xứng nguời xưa

Yêu nòi giống, hiểu thời cơ

Bốn phương một ý: Phụng thờ giang sơn

Đừng lo yếu, hãy chung hờn

Cần câu đánh giặc từng hơn giáo dài

Trả núi sông ta! Lời dĩ vãng

Thiên thu còn vọng đến tương lai

Trả ta sông núi! Câu hùng tráng

Là súng là gươm giữ đất đai 

Trông lên cao ngất phương trời

Hồn thiêng liệt sĩ bừng tươi sắc cờ

Nguyễn Quang Dũng

30-4-2025

Ghi chú:

Share your love

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Stay informed and not overwhelmed, subscribe now!